Sunday, July 12, 2026

Nghỉ Hè Ở Mallorca - Phạm Tín An Ninh

Mallorca, một hòn đảo du lịch nổi tiếng của Tây Ban Nha, nằm trong quần đảo Balearic. Trước khi đến đây, vì nghĩ là đảo, nên tôi tưởng chỉ có rừng núi và biển cùng một vài làng mạc hay khu phố nhỏ. Nhưng tôi rất ngạc nhiên khi phi cơ đáp xuống phi trường Palma rộng lớn, kiến trúc tân kỳ, sang trọng còn hơn nhiều phi trường quốc tế khác mà tôi đã từng đi qua. Palma là thủ phủ tráng lệ của Mallorca, nằm trên một dãy đồi cao nhìn xuống biển xanh. Đặc biệt khu nhà thờ Cathedral nằm bên cạnh giáo đường Mussulman, gồm những kiến trúc độc đáo, nổi tiếng theo kiểu Mediterranean Gothic từ thế kỷ thứ 13.

Chiếc xe bus của công ty du lịch đưa chúng tôi đi qua vài thành phố cảng, sang trọng và sầm uất, nằm dọc theo bờ biển, để đến Alcudia, khu nghỉ mát nằm phía đông bắc Palma chừng ba giờ xe. Chúng tôi chọn nơi này, vì bờ biển đẹp, một cái vịnh nhỏ, nằm khuất sau dãy núi Victoria, nên không có sóng và khá an toàn cho trẻ em. Những em bé năm, sáu tuổi có thể lội ra cách bờ 50-60 mét.

Thực ra kỳ nghỉ hè này chỉ là món nợ mà vợ chồng tôi phải trả cho con bé cháu nội. Trước đây hai năm tôi hứa với cô bé là sẽ thưởng một kỳ nghỉ hè hai tuần lễ ở Mallorca nếu nó đọc và viết được tiếng Việt. Chúng tôi ở trong một khách sạn, đi bộ ra biển chừng vài phút. (Đa số khách sạn ở vùng này giống như những khu apartment, mỗi phòng trọ, ngoài các phòng ngủ, còn có phòng khách và bếp với đầy đủ dụng cụ nấu ăn). Ở Bắc Âu thời tiết lạnh đến bảy, tám tháng, không có nhiều dịp được ra biển tắm, nên con bé cháu nội rất mê biển. Sáng nào, mới vừa thức dậy, con bé cũng giục ông bà nội ra biển, mãi đến chiều, khi trời sắp tắt nắng mới chịu trở về. Đã vậy khi về đến khách sạn, cô bé còn xin được tiếp tục bơi lội trong hồ tắm của khách sạn đến tối mịt mới chịu vào phòng. Trong khi bà xã làm thức ăn, tôi có nhiệm vụ ngồi trên bờ hồ trông chừng con bé.

Ở đây, hầu hết khách du lịch đến từ Âu Châu, đa số là người Bắc Âu và Đức. Suốt tuần lễ đầu tiên, tôi không gặp người Á châu nào, ngoại trừ gia đình người Tàu làm chủ một nhà hàng buffet, sinh sống ở đây đã lâu năm. Một hôm, khi nằm trên chiếc ghế dựa bên hồ tắm nhìn trời, bất ngờ nghe cô bé cháu nội nói chuyện bằng tiếng Việt với một người nào đó. Nhìn xuống hồ tôi nhận ra một cô gái tóc đen đang tắm và đùa giỡn với con bé. Thấy tôi nhìn, cô gái lạ đưa tay vẫy, và nở một nụ cười chào tôi. Giữa một nơi xa lạ, người đồng hương dễ quen nhau.

Trưa hôm sau, trong lúc vợ chồng tôi nằm trốn nắng dưới cây dù lớn ngoài bãi tắm, con bé cháu nội dắt tay cô gái đến chào chúng tôi. Cô gái tự giới thiệu tên mình là Lam Khê, khoảng chừng 19, 20 tuổi, khuôn mặt khá xinh và đôi mắt thật to, tự nhiên dễ mến. Nhưng điều làm tôi chú ý chính là cái tên Lam Khê, trùng hợp với một địa danh vẫn còn đậm trong ký ức, cho dù cuộc đời thăng trầm đây đó của tôi còn có biết bao nhiêu cái tên để nhớ.

Buổi chiều, khi vợ chồng tôi và cô bé cháu nội đang ăn tối trong nhà hàng buffet của một người chủ gốc Tàu, thì bất ngờ thấy Lam Khê đi vào cùng với một người đàn bà Việt Nam và một người đàn ông ngoại quốc. Có lẽ Lam Khê đã kể về chúng tôi, nên cả hai người đến chào và bắt tay chúng tôi. Khi đứng lên bắt tay bà mẹ, tôi bất ngờ đến giật mình khi nhận ra người đàn bà này chính là người mà tôi vừa nghĩ tới sáng nay khi gặp Lam Khê. Trong khi tôi đang ngạc nhiên về những cuộc hạnh ngộ bất ngờ trong đời mình, thì bà nở nụ cười giới thiệu người đàn ông ngoại quốc đi bên cạnh:

-Đây là ông xã em. Anh người Đức. Chúng em sống ở thành phố Hamburg.

Tôi đưa tay bắt tay và gật đầu chào người đàn ông, nhưng lại hỏi bà:

-Xin lỗi, tên bà có phải là Hà Giang?

-Sao ông bà biết tên tôi? Người đàn bà trố mắt nhìn chúng tôi ngạc nhiên.
-Không ngờ tôi lại gặp bà ở đây - Tôi vừa nói vừa kéo ghế mời cả ba người- Hóa ra chúng ta đã từng gặp nhau. Chúng tôi xin được mời ông bà và cháu Lam Khê.

Bà ngồi xuống bên cạnh vợ tôi, nét ngạc nhiên vẫn còn nguyên trên mặt. Để đánh tan không khí căng thẳng, tôi giải thích:

- Tôi biết bà khi tôi đang ở tù ngoài miền Bắc. Sáng nay khi gặp và biết tên cháu Lam Khê, tôi đã nghĩ ngay đến bà. Bởi cái tên Lam Khê, tôi và đám bạn tù không thể nào quên. Không ngờ bây giờ lại gặp bà ở đây. Xin cám ơn tình cảm và lòng tốt của bà đã dành cho chúng tôi trong những ngày sa cơ khốn khó.

Bà nhìn tôi dò xét. Suốt bữa ăn, chúng tôi nhắc lại những ngày vui buồn ở vùng núi xa xăm ấy. Trong khung cảnh vui vẻ, nhưng nhìn khuôn mặt và nụ cười không trọn, tôi có cảm giác bà ta đang ưu tư một điều gì đó.

Lam Khê, cái tên khá đẹp đó lại là một khu núi rừng Thanh Hóa, tiêu điều hoang vắng, nằm sát biên giới Lào-Việt, mà bọn tù “cải tạo” chúng tôi bị đưa đến đây để phát rừng trồng cây, xây dựng một lâm trường, trong một mùa hè nắng và gió Lào muốn cháy cả thịt da.

Ngày đầu mới đến, giữa một khu núi rừng xa xôi hẻo lánh, chúng tôi chỉ thấy có hai căn nhà lá cọ vừa mới dựng lên, trong đó chỉ có vài người ở. Họ được giới thiệu là “những bảo vệ và cán bộ lâm trường”. Điều làm chúng tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú là sự có mặt của một cô con gái trẻ, trông dáng dấp e ấp thư sinh, mà lại là “thủ trưởng” toàn bộ lâm trường này. Tôi nhớ một câu ví von của người nào đó: “Hoa lạc giữa rừng gươm”!

Cả đội tù chúng tôi trên sáu mươi người được lệnh ngồi trên một bãi cỏ bên bìa rừng, để “nghe nữ đồng chí giám đốc lâm trường lên lớp”. Mặc một bộ đồ công nhân màu xanh, rộng thùng thình, khuôn mặt không một chút phấn son, nhưng trông khá xinh với đôi mắt thật to và buồn. Cô chào chúng tôi bằng một nụ cười, nói năng từ tốn, tự giới thiệu tên là Hà Giang, trước khi nói về địa thế, đặc tính khu rừng, cách thức phát hoang và phương pháp an toàn. Cô gọi chúng tôi là các chú và xưng mình là em. Sự kiện chưa từng thấy trong những năm tù. Cuối cùng cô nhờ anh đội trưởng cắt cử cho cô năm người để cô hướng dẫn việc đo đạc, cấm cọc, căng giây. Tôi được may mắn nằm trong năm thằng được chọn.

Dường như từ ngày có chúng tôi, đôi mắt của cô trông bớt buồn hơn. Nhiều lúc cô đùa giỡn rất thân tình. Mỗi ngày năm đứa chúng tôi theo cô vào rừng để đo đạc. Những lúc ấy cô thường ngồi tâm tình. Cô kể về đời mình và thường hỏi mỗi người chúng tôi về hoàn cảnh cha mẹ, vợ con ở quê nhà. Nghe chúng tôi kể sự gian truân của gia đình cùng nỗi nhớ thương vô vọng, nhiều lần cô đã lau nước mắt. Thấy một anh đeo trên cổ tấm ảnh của vợ lồng trong mảnh gỗ mun nhỏ, cô xin được xem rồi bảo nhỏ “các chú thật chung tình”.

Hà Giang là một sinh viên giỏi, được gửi sang Đông Đức học về Lâm Nghiệp. Sau khi tốt nghiệp trở về đúng vào lúc đảng Cộng Sản phát động phong trào “trí thức đi thực tế”, cô được đưa lên Lào Cai, hướng dẫn những người dân tộc trồng và bảo vệ rừng. Mới đến Lào Cai vài tháng, chưa quen với khí hậu khắc nghiệt và tập quán địa phương, thì giặc “bành trướng” Trung Quốc tràn qua biên giới. Rất may mắn, lúc ấy cô đang về học một lớp chính trị ở Hà Nội, nên thoát nạn và được Bộ điều vào Thanh Hóa để thành lập lâm trường mới. Đó chính là lâm trường mà chúng tôi đang có mặt. Thực ra đây chỉ là một vùng núi rừng hoang vắng, với ban điều hành gồm năm người, do cô làm giám đốc, cơ sở chỉ là hai căn nhà lá, công nhân là 60 thằng tù khổ sai bọn tôi, và dụng cụ chỉ có toàn dao phát rừng và vài cái cuốc chim!

Một hôm, thấy thấp thoáng một người đàn ông lạ, chúng tôi hỏi cô. Ngập ngừng một lúc thì cô mới buồn bã tâm sự. Người đàn ông ấy là một công nhân máy kéo tiên tiến, đang phục vụ ở một lâm trường khác, cách nơi này hơn hai mươi cây số, có nhiều tuổi đảng, được đảng bộ sắp xếp để lâp gia đình với cô, làm gương cho kế hoạch “trí thức cùng chung sống với công nhân” của đảng mới đề ra. Mục đích làm cho đám công nhân ít học, phấn khởi trước sự ưu ái của đảng, đem hết sức lực ra phục vụ và trung thành với đảng. Đây cũng là “phần thưởng” để cô được bổ nhậm về lâm trường mới này với chức danh giám đốc!

Chúng tôi ngạc nhiên, vì gã công nhân tiên tiến này trông lớn hơn cô nhiều tuổi, rổ mặt, đen đủi, cục mịch. Không có điều nào hợp với cô con gái có học và dễ thương này. Cô còn bảo là trong trái tim cô, không hề có một ngăn nhỏ nào dành cho anh ta, nhưng không dám làm trái ý đảng, sẽ bị kỷ luật nặng, vì vậy cô phải gật đầu, nhưng tìm cách trì hoãn đám cưới được ngày nào hay ngày ấy. Cô nói là cô đang trong thời kỳ “nín thở qua sông”!



Mặc dù có cảm tình và tội nghiệp cô, nhưng chúng tôi luôn “đề cao cảnh giác” không dám nói điều gì. Vì kinh nghiệm cho chúng tôi biết, Cộng Sản luôn gài nhiều cái bẫy chung quanh, và chuyện “mỹ nhân kế” không phải bây giờ mới có. Một hôm, trong lúc ngồi nghỉ trưa, cô lấy ra từ chiếc bao nhỏ, mời chúng tôi mỗi người một củ khoai lang luôc, rồi buột miệng hỏi:
-Nghe nói các anh ở trong trại bị bọn công an hành hạ dữ lắm phải không?

- Bọn tôi là những người thua trận, thì chuyện bị tù đày, hành hạ cũng là lẽ thường tình - Một anh bạn tù trong bọn tôi trả lời.
Cô trầm ngâm giây lát rồi lên tiếng:
- Theo em thì trong cuộc chiến ấy, tất cả chúng ta, miền Bắc và miền Nam, chẳng có ai chiến thắng. Chỉ có những kẻ ngu muội, luôn cúi đầu làm tay sai ngoại bang, mà cứ tưởng là mình đại thắng, để cầm tù và hành hạ lẫn nhau thôi. Chỉ trong các nước Cộng Sản mới có chuyện lạ đời: một ngu dốt lại được giao trách nhiệm “giáo dục, cải tạo” những người trí thức, mà đòi hỏi người ta phải tiến bộ tốt! Khôi hài thật!

Bọn tôi chỉ im lặng. Những lần nói chuyện sau đó cô thường bảo là cô rất ghê tởm cái đảng Cộng sản, nhưng muốn chống lại hay thoát ra, phải trả bằng mạng sống, có khi làm khốn khổ cho cả gia đình. Điều làm chúng tôi vui là được lao động thoải mái, không cần phải đạt một chỉ tiêu nào, và thường được cô cho bồi dưỡng bằng khoai, có khi mì sợi. Anh em nào có áo quần dân sự hay khăn tắm mang theo, Cô nhận mang đi đổi lấy gạo, đường hay vài loại thực phẩm khác.

Lâm trường mới khởi công vừa được hơn ba tuần thì trại tù có lệnh biên chế. Tôi bị chuyển sang một trại mới, tiếc nuối những ngày lao động tương đối thoải mái, hiếm hoi trong gần bảy năm tù.

2-
Chiều hôm sau, khi dắt con bé cháu nội ra hồ tắm trong khách sạn, tôi bất ngờ gặp Hà Giang và cô con gái Lam Khê. Hai mẹ con đang nằm trên ghế đọc sách. Thấy tôi, Hà Giang ngồi dậy,  mời tôi ngồi vào ghế bên cạnh và vui vẻ bảo Lam Khê xuống hồ bơi và chơi đùa với con bé cháu nội của tôi, dặn dò trông chừng con bé, và có nhã ý muốn đến phòng trọ thăm bà xã của tôi.

Chúng tôi mời cơm, nhưng bà từ chối, chỉ xin uống trà. Khi tách trà vừa cạn, bà đề nghị chúng tôi cứ gọi bà bằng cô và đột ngột hỏi tôi:
- Anh còn nhớ anh Đôn không ?

Thấy tôi chau mày, bà nói thêm như để xác định:

-  Trần Chánh Đôn!
Tôi hỏi lại:
- Đôn pilot, cùng toán đo đạc với tôi lúc làm việc với cô ở lâm trường?
Hà Giang gật đầu, không nói. Một lúc, tôi thấy bà đưa khăn tay lau nước mắt. Và sau đó, vợ chồng tôi ngồi nghe tâm sự của bà:
- Anh Đôn đã chết rồi! Tất cả là do lỗi của em. Chính em đã cung cấp cho anh Đôn thực phẩm, thuốc men, tấm bản đồ và một chiếc la bàn, em lấy của lâm trường khi ấy, và chỉ vẽ cho anh cách thức trốn khỏi lâm trường cùng với ba người bạn tù khác. Với tấm bản đồ, cái la bàn và  sự hướng dẫn tường tận của em, em tin chắc là các anh ấy đã dễ dàng trốn được qua khỏi biên giới. 

Không ngờ sau hơn ba tuần, khi em đang khấp khởi mừng thầm thì được tin tất cả đều bị bắt tại Lào. Em như muốn quỵ xuống, mất ăn mất ngủ, nhưng cũng cố giữ bình tĩnh tìm cách hỏi một số cán bộ công an trại giam. Họ cho biết là tất cả bốn anh đều bị công an bắn chết trên đường dẫn độ từ Lào về trại, bởi các anh đã chống cự để tìm cách thoát thân. Mặc dù tin tưởng vào thái độ kiên cường và tư cách của các anh, dù có tra tấn thế nào các anh cũng sẽ không khai ra sự tiếp tay trợ giúp của em, nhưng em vẫn lo sợ bị liên lụy, nếu họ phát hiện tấm bản đồ và cái la bàn của lâm trường thì hậu quả khôn lường, nên em đã khẩn trương chạy về Bộ, năn nỉ và hối lộ tất cả số tiền dành dụm để ông Thứ Trưởng cho em được trở lại Đông Đức hai tuần, đệ trình cho trường đại học cũ một số nghiên cứu mà em vừa viết xong, sau hơn một năm tốt nghiệp và ra thực tế ngoài lâm trường. 

May mắn em được ông ta gật đầu, và liên lạc can thiệp bên tòa đại sứ Đức cấp visa sớm. Chỉ hơn mười ngày là em rời khỏi nước. Tất nhiên đó chỉ là cái cớ.  Sau khi sang Đức, em trốn lại ở nhà vợ chồng người bạn Đức mà em quen thân lúc còn học ở đây. Ông chồng em mà anh chị gặp tối hôm qua trong quán ăn, là anh ruột của cô bạn thân này. Anh ấy đã hết lòng lo lắng và chở che em.

Rời khỏi Việt Nam, ngoài quê hương và gia đình, em còn mang theo hình ảnh của anh Đôn. Xin anh chị đừng ngạc nhiên, em yêu anh ấy! Ngoài sự hiểu biết, đẹp trai với nụ cười độ lượng, em còn nhìn thấy bên trong của anh Đôn là sự thủy chung và lòng tự trong, có cả một chút nghệ sĩ lãng mạn nữa. Thời gian làm việc bên nhau, trong khu núi rừng Lam Khê ấy, em đã học được ở anh rất nhiều điều hay, nghe anh hát những bản tình ca, đọc những bài thơ lãng mạn, tuyệt vời. Trái tim em lần đầu tiên biết rung động. 

Tội nghiệp, em yêu anh Đôn trong một hoàn cảnh quá nghiệt ngã. Điều duy nhất mà em có thể làm được cho người yêu của mình là giúp anh trốn trại, vượt ra khỏi khung cảnh đày ải man rợ, để anh ấy luôn được xứng đáng với những điều anh đang có. Vì chính những điều ấy đã làm cho trái tim em rung động, để em biết thế nào là một tình yêu, mà nếu không gặp anh ấy, có lẽ suốt cả đời em không có được. Quan trọng hơn, đó lại là thứ vũ khí tốt nhất, hiệu quả nhất giúp em đủ can đảm và nghị lực để chống lại số phận, mà trước đó em nghĩ  là sẽ tới một ngày em sẽ phải đầu hàng, buông xuôi, bất lực.

Hà Giang ngưng lại, lau tiếp những giọt nước mắt chảy dài trên gò má. Tôi rót thêm trà mời cô.

Bà xã tôi hỏi:

- Cô có giữ tấm ảnh nào của anh Đôn?

- Tiếc là khi ấy anh Đôn không có tấm ảnh nào hết. Anh có cho em địa chỉ của bố mẹ anh ở thành phố Nha Trang, nhưng em gởi mấy cái thư về địa chỉ ấy đều bị trả lại, với lý do:  người nhận không còn ở tại địa chỉ này. Nghe nói bố mẹ anh đều là thầy giáo, không biết có bị đi vùng kinh tế mới hay không?
Tôi đưa tay ngăn lời cô:
- Cô còn nhớ địa chỉ ấy không? Chúng tôi cũng đều là người gốc Nha Trang. Tôi có thể hỏi thăm tin tức cho cô. Nhân tiện chúng tôi cũng muốn biếu cha mẹ anh ít tiền, vì Đôn cũng là bạn tù của tôi.
Hà Giang chau mày:
-  Lâu quá, nên em quên, nhưng có thể em còn giữ ở nhà. Em xin địa chỉ e-mail để gởi đến anh chị, nếu em tìm lại được. Em thiết tha muốn gặp bố mẹ anh Đôn, nếu các người còn sống.

Thực ra chuyện Hà Giang yêu Đôn, cũng chẳng làm tôi ngạc nhiên nhiều lắm. Đúng như Hà Giang nói: Đôn là một phi công trẻ. Bao nhiêu năm trong cảnh khốn cùng, đã không làm mất đi nét đẹp trai, tính nghệ sĩ và tư cách của Đôn. Bạn tù ai cũng quí mến. Chuyện Đôn cùng ba người bạn tù khác trốn trại, khi tôi đã bị chuyển đi trại khác hơn tám tháng, sau này ra hải ngoại, tôi có nghe đám bạn bè kể lại, nhưng mỗi người mỗi cách.

Chỉ hơn một tuần về lại nhà, sau kỳ nghỉ hè khá thú vị, nhất là bất ngờ gặp lại Hà Giang, hồi tưởng lại một thời tù đày, tôi nhận được e-mail của Hà Giang gởi thăm, có ghi địa chỉ của ông bà Trần Chánh Nghị, cha mẹ Đôn, ở Nha Trang.

Tôi viết thư nhờ người bạn thân còn ở lại Nha Trang, tìm đến địa chỉ nhà Đôn mà Hà Giang vừa mới cho. Tôi cũng cho anh bạn biết là gia đình Đôn đã dọn đi nơi khác, nhưng từ đó hỏi thăm biết đâu có thể tìm ra manh mối.

Sau gần hai tháng, tôi nhận được thư hồi âm của người bạn cũ. Một đoạn trong thư làm tôi bất ngờ, nhưng sáng lên hy vọng:

“Đúng như mày viết, gia đình người này đã dọn đi khá lâu rồi. Nhưng có người láng giềng cho biết là ông bà chủ nhà đã qua đời hơn hai mươi năm nay. Ông bà chỉ có người con trai duy  nhất bị tàn tật, hình như là đang đi tu ở một ngôi chùa nào đó. Tao dò tìm khắp nơi theo lời kể khá mơ hồ của những người hàng xóm, đến nay vẫn chưa gặp được...“

Tôi đọc đi đọc lại dòng chữ “Ông bà chỉ có người con trai duy nhất“, rồi chạy ra ngân hàng gởi một ít tiền cho người bạn, kèm theo lời nhắn: Mày cố gắng mọi cách tìm gặp người con trai này, và hỏi có phải tên là Trần Chánh Đôn. Có gì ra bưu điện gọi điện thoại cho tao biết.

Tôi nôn nao chờ đợi, bỗng một hôm, lúc nửa đêm, điện thoại reo. Bốc ống nghe lên, tôi vui mừng và hồi họp khi nghe tiếng của người bạn từ Việt Nam:
“Tao đã tìm được anh ta. Đúng là Trần Chánh Đôn. Bây giờ là đại đức Thích Thiện Hòa. Anh đang tu ở một ngôi chùa nhỏ, nằm dưới triền núi, phía trên đèo Ngoạn Mục, đèo Bellevue đó, thuộc quận Đơn Dương, cách Đà Lạt gần bốn mươi cây số. Chùa do người bác ruột xây dựng và làm trụ trì. Tội nghiệp, ông Thiện Hòa bị mù một con mắt và què cả hai chân, nhưng khuôn mặt trông đẹp và phúc hậu lắm. Tao nghĩ là ông không bao giờ rời khỏi chùa, vì từ dưới chân núi đi lên, tao đếm hơn năm mươi bậc tam cấp.“

Tôi viết e-mail cho Hà Giang, báo cho cô cái tin bất ngờ này. Đắn đo mãi, cuối cùng mới quyết định nói thật mọi điều. Nhớ lại nhiều lần cô lau nước mắt khi kể về Đôn với vợ chồng tôi ở Mallorca, tôi nghĩ là cô sẽ đau lòng lắm khi nhận được tin này.

Sáng hôm sau tôi nhận e-mail hồi âm của Hà Giang:
“Anh Chị  ơi.
Em đã khóc hết nước mắt khi nhận được tin anh Đôn. Suốt cả đêm hôm qua em không thể nào chợp mắt. Em phải xin nghỉ làm hôm nay, và bây giờ lòng dạ cứ thẫn thờ. Không thể ngờ là anh Đôn vẫn còn sống. Em vừa mừng nhưng cũng vừa đau lòng lắm, khi biết anh đã bị mù một mắt và tàn phế cả đôi chân. 

Suy nghĩ mãi, em mới dám nói ra điều này với anh chị, vì anh cũng là bạn của anh Đôn và với em như là một người anh, người chú.

- Cháu Lam Khê, đứa con gái mà anh chị đã gặp ở Mallorca, chính là giọt máu của anh Đôn. Trước ngày chia tay, để anh ra đi, chúng em có đôi ngày hạnh phúc ngắn ngủi trong rừng, em tự nguyện dâng hiến cho anh, thay cho lời hẹn ước, là dù góc biển chân trời nào, dù có phải trải qua bao nhiêu giông bão, chúng em cũng sẽ tìm gặp để đoàn viên. 

Nhưng rồi ông trời đã hại em, vì em cứ đinh ninh là anh ấy đã chết. Để tang cho anh đến sáu năm, em mới lấy ông chồng này, đền đáp lòng yêu thương và cưu mang đùm bọc của ông khi em thân cô trôi dạt xứ người. Bây giờ biết được anh Đôn còn sống, nhưng đã trở thành một vị đại đức, em vừa hối hận vừa băn khoăn, không biết phải làm sao. Em tha thiết xin anh chị cho em một lời khuyên, để em biết mình sẽ phải làm gì. Bây giờ chắc anh ấy chẳng cần một sự giúp đỡ vật chất nào, nhưng còn Lam Khê, dù sao nó cũng l giọt máu của anh. Làm thế nào để cha con nhận ra nhau? Lam Khê cũng nghĩ là ba nó đã chết. Thỉnh thoảng cháu hỏi em về ba nó. Cháu thương và hãnh diện về ba cháu lắm.“

3-
Cuối cùng, vợ chồng tôi bàn tính mãi nhưng cũng không tìm ra một lời khuyên nào để giúp Hà Giang, ngoài việc hỏi cô nếu muốn gặp Đôn, vợ tôi có thể giúp cô, cùng về Việt Nam, vì vợ tôi sống ở Nha Trang khá lâu, lại có thằng bạn thân ở đó, biết rõ đường đi đến vùng núi Đơn Dương, Đà Lạt, nơi có ngôi chùa.

Không ngờ Hà Giang mừng rỡ đón nhận đề nghị này, và xin vợ tôi về Việt Nam ngay trong tuần để đón giùm mẹ con cô tại phi trường Tân Sơn Nhất. Đây là lần đầu tiên cô bước chân đến miền Nam Việt Nam. Số chuyến bay và giờ đến phi trường, cô sẽ cho biết sớm.

Và dưới đây là lời kể của vợ tôi, về cuộc trùng phùng:
...Họ gặp nhau và nhận ra nhau. Mới đầu, Hà Giang ôm chầm lấy Đôn mà khóc nức nở. Cô quên mất anh đang là một vị thầy tu. Xúc động nhất là khi Hà Giang cho anh biết Lam Khê chính là con của anh. Hai cha con họ ôm lấy nhau thật lâu và cả hai đầm đìa nước mắt. Thầy đem cả triết lý đời và đạo để an ủi, khuyến khích và hướng dẫn Lam Khê bước đi trong cuộc sống có quá nhiều muộn phiền và bất trắc. Thầy nói thật hay và cảm động.

Thầy kể lại chuyện trốn tù, lý do vì sao bị bắt, chuyện thầy bị đánh vỡ một con mắt và bị bắn nát hai bàn chân chỉ vì thầy nhất định không khai người nào đã giúp thầy cùng ba người bạn tù trốn trại một cách tài tình mà chúng nghi ngờ, mặc dù thầy đã kịp giấu tấm bản đồ và cái la bàn dưới một tảng đá trước khi bị bắt. Họ không đưa về trại cũ mà giao cho một trại tù khác. Bị biệt giam ở đây đến mấy năm mà thầy chẳng biết vì sao không chết. Hà Giang ngồi khóc nức nở.

Sau khi mọi người tìm lại được sự bình tĩnh, Hà Giang xin cúng dường cho chùa một số hiện kim, nhưng thầy Thiện Hòa từ chối, bảo là nhà chùa không cần một số tiền lớn như vậy. Hà Giang tha thiết xin được đưa thầy đi sang Đức làm đôi chân giả và thay con mắt mù lòa, thầy cũng chối từ, bảo thầy đã quen rồi với những mất mát ấy, hơn nữa bây giờ thầy đã tu hành, năm tháng chỉ quanh quẩn trong chùa, không cần thiết phải đi đó đi đây. Thầy có mở một lớp học dạy các em học sinh nghèo hiếu học trong vùng, nhưng phòng học là gian nhà trống vách ngay phía sau chùa.

Đêm cuối cùng ở Nha Trang, Hà Giang quyết định đổi vé máy bay, ở lại một thời gian nữa. Cô cho biết là mẹ con cô sẽ cố gắng thuyết phục Đôn, để mua cho anh cái xe lăn, xin được xây lại ngôi chùa mới, thay những bậc tam cấp bằng con đường lát đá, đặc biệt phía sau chùa, từ gian phòng Thầy dạy học nhìn ra, đã có sẵn khu rừng với ít hoa dã quỳ, cô sẽ cho sửa sang lại thành một khu vườn đẹp đẽ, trồng thêm hoa, làm suối nước, và xin đặt tên là Lam Khê Viên, vì chữ Lam nghe cũng hợp với khung cảnh chùa chiền...

Khi ngồi viết những dòng này, tôi không biết là những điều mong ước của Hà Giang có được thầy Thích Thiện Hòa chấp nhận hay không, và cuộc tình đẹp và bi tráng này có còn sống mãi trong lòng mỗi người cho đến thiên thu.
Phạm Tín An Ninh

ĐÔI BỜ – Vĩnh Chánh –

 

Có những dòng sông tưởng như sinh ra để chỉ chảy qua đồng ruộng, qua bãi cát mịn, những bãi bồi lặng lẽ, hay lượn qua những lũy tre làng êm ấm. Nhưng cũng có những dòng sông, không hiểu vì sao, lại được lịch sử chọn làm ranh giới, chảy qua cả số phận của một dân tộc – để chia đôi hai miền, chia đôi phận người. Từ sông Gianh của thế kỷ xa xưa, nơi hai miền Đàng Trong – Đàng Ngoài, của Chúa Trịnh Chúa Nguyễn, đứng nhìn nhau qua màn sương lịch sử, đến sông Bến Hải của thế kỷ gần hơn, nơi bên kia cầu Hiền Lương từng run rẩy trong tiếng loa phóng thanh và những ánh mắt thù nghịch với mã tấu búa liềm, và bên này cầu với ấm no hạnh phúc, giáo dục nhân bản và tự do xã hội.  Hai dòng nước ấy, cách nhau hàng trăm năm, lại cùng mang một nỗi đau: nỗi đau của một đất nước bị chia đôi như một nhát chém vào tim. Là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng ở hai bờ, nhìn nhau mà không thể bước đến cầm tay nhau. 

Giữa những đôi bờ ấy, dân Việt vẫn đứng đó, với một vết thương đã liền da nhưng vẫn nhói, vẫn buốt. Đặc biệt, sông Bến Hải– cầu Hiền Lương trở thành một nỗi nhớ triền miên, kèm theo mất mác chia lìa mà có khi cả đời vẫn chưa hàn gắn. Câu chuyện Đôi Bờ không chỉ là chuyện về địa lý của vĩ tuyến 17, không chỉ ngăn cách hai miền đất, hai chính thể. Chúng còn chia lìa những điều mong manh nhất của kiếp người. Với những danh từ mới: Bên Dinh Bên Tề, Di Cư Tập Kết, Tàu Há Mõm, Vượt Sông Vượt Tuyến, Bức Màn Sắt, Quốc Gia / Cộng Sản, Tự Do Dân Chủ / Độc Tài Đảng Trị, Khẩn Hoang Lập Ấp / Đấu Tố – Cải Cách Ruộng Đất. Khiến sự chia cách càng thêm éo le. Có những đôi bạn lớn lên cùng nhau, rồi một ngày trở thành hai phía của lịch sử. Có những mối tình vừa chớm nở đã bị dòng nước lạnh lùng cuốn đi, để lại hai trái tim chỉ còn biết thương nhớ nhau bằng ký ức. Có những gia đình, kẻ ở lại người ra đi, dù chỉ cách nhau một dòng sông nhỏ mà lại hóa ra xa đến tận hơn nửa đời người. Có những người chồng vội vả mang hai con lớn, để lại thằng út cho vợ, mà không ngờ thật đắng cay và chua xót khi về sau người cha và thằng con út mình tìm thấy nhau ở hai bên chiến tuyến.

 Đôi Bờ bổng nhiên trở thành câu chuyện của những trái tim – những trái tim bị chia ly, những trái tim chảy máu, những trái tim tim lặng lẽ giữ lấy một niềm tin rằng, dù chiến tranh ngang trái, dù một dòng sông nhỏ thôi cũng đủ trở thành ranh giới của nhớ thương. Nỗi “thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai”- trong Đôi Bờ của Quang Dũng – như một lời thở than, một vết thương mềm của anh lính nhớ về một hình bóng xa mà gần, gần mà xa. Nỗi nhớ ấy tưởng chỉ là chuyện riêng giữa hai người, nhưng thật ra lại chạm vào mạch ngầm hằng có trong lịch sử Việt Nam – nơi những dòng sông từ lâu mang trong mình số phận chia cắt.

Sau Bến Hải, đến Cầu Trường Tiền bị CS đánh sập khi chúng mưu đồ xé bỏ hiệp định đình chiến Tết Mậu Thân 1968, chia cắt đôi bờ Hữu Ngạn Tả Ngạn của Huế gần cả tháng, đem chiến tranh vào tận thành phố và gieo tang tóc, chết chóc cho mấy ngàn thường dân vô tội. Từ năm 1965 và lần hồi nhiều năm sau đó, ranh giới Bến Hải bị xô lệnh khi miền Bắc cố tình và âm thầm lấn xuống phía Nam qua hẵn vùng phi quân sự. Đến năm Hè Đỏ Lửa 1973, cả ngàn bộ đội Miền Bắc bỏ xác, nhuộm đỏ dòng sông Thạch Hản khi tràn vào đánh vào Quảng Trị

Những sự kiện lấn chiếm phía Nam sông Bến Hải, đánh sập cầu Trường Tiền, tiến đánh Quảng Trị 1972, chủ trương chiến dịch Da Beo, khiến nơi trao đổi tù binh hai bên vào hè năm 1973 không phải là tại sông Bến Hải, mà là tại sông Thạch Hản, cho thấy sự tráo trở giảo quyệt của chế độ vô sản Miền Bắc, gây ra bao cuộc chia ly mà hình ảnh và vết tích đã, đang và mãi mãi còn in dấu trong lịch sử dân tộc.

Tưởng rằng sau 1975 khi đất nước liền một dải thì nỗi chia ly sẽ chấm dứt, đôi bờ ngăn cách sẽ được xóa tan. Thế nhưng lịch sử như muốn thử thách thêm sức chịu đựng của con dân mình, và rằng lịch sử chưa đủ những vết cắt, hay như thể cha ông chúng ta chưa đền đủ nợ oan gia  từ tiền kiếp, biến cố 30 tháng 4, 1975 lại mở ra một cuộc chia lìa khác, khủng khiếp hơn, kinh hãi hơn nhiều, gây nhiều thảm cảnh thương đau, đánh động lương tâm toàn thế giới – vì lần này không phải bởi một dòng sông nhỏ, mà bởi cả một đại dương rộng lớn và hãi hùng. Đại dương mênh mông này trở thành “dòng sông thứ ba”, hàng trăm ngàn người Việt lại đứng ở hai bờ sông – một bên là đất mẹ, một bên là bến bờ xa lạ.

Sóng biển không những nuốt chửng thuyền nhân, mà còn nuốt cả những hy vọng, những lời hẹn thề, những tiếng gọi nhau không bao giờ tới được. Vì vậy khi đọc Đôi Bờ, ta không chỉ thấy một cuộc chia ly của hai người, mà còn thấy luôn  bóng dáng của cả một dân tộc oằn người trong đó – một dân tộc nhiều lần bị đặt ở hai phía đối diện, nhưng trái tim người dân thì chưa bao giờ thôi hướng về nhau – với một người ra đi là cả một gia đình mươi người còn lại bên kia ngày ngày cầu nguyện cho người thân yêu đến được bờ bến tự do. Như vậy mới thấy rõ những Đôi Bờ của lịch sử có thể xa, nhưng những Đôi Bờ của tình người thì vẫn âm thầm mong ước ngày tái ngộ.

Đây là một cuộc vượt tuyến vĩ đại chưa từng được ghi nhận trong lịch sử thế giới, nói lên sự dứt khoát chọn lựa Tự Do trong cuộc sống, thà chết ngoài biển khơi hơn là tiếp tục sống trong nhà tù lớn, nhỏ, của chế độ thù hằn. Văn học xã hội và lịch sử có thêm những danh từ mới: Di Tản, Vượt Biên Vượt Biển, Cướp Biển, Thuyền Nhân Bộ Nhân, HO, ODP, Trại Tỵ Nạn, Trại Chuyển Tiếp, Hoạt Động Cứu Người Vuợt Biển, Định Cư Nhập Cư, Political Asylum Green Card…

Nhưng các bạn ơi, bến bờ lần này xa vời vợi, quá rộng, quá lạnh, quá tàn nhẫn;  Thái Bình Dương hay cả bên kia bờ Thái Bình Dương, rồi khắp vòng quanh thế giới là vạn dặm cách xa quê hương. Ở giữa những bờ ấy là những con thuyền mong manh như số phận người ra đi, là đói khát, là sóng to gió lớn, là chết chóc với con mắt mở lớn khiếp đảm và bàn tay không kịp đưa lên trời cầu xin, với những cơn bão không tên làm chìm thuyền, hay do thuyền của hung thần hải tặc đâm thẳng vào sau khi vét cạn chút tài sản còn lại của nạn nhân… Và giữa hai bờ ấy, cả mấy trăm ngàn người – vì một chữ Tự Do – đã nằm lại, không mộ phần, không bia đá, chỉ có biển cả làm tấm khăn liệm cuối cùng. Những chia ly này, không như những chia ly trước chỉ vì địa lý. Chúng là những tiếng khóc than bay lên tận trời. Là những vết thương âm thầm không ngưng rỉ máu trong từng gia đình, khi cha mất con vợ mất chồng, anh em thất lạc nhau– là những thảm cảnh xã hội trớ trêu, đầy oan trái, đắng cay.

Ta thường tự hỏi có phải lỗi lầm? Hay chỉ định mệnh? Khi một người vợ phải “ôm cầm sang thuyền khác” vì con thơ cần được nuôi, vì miếng cơm manh áo, vì bơ vơ trên xứ người, vì không biết chồng mình còn sống trong tù CS hay đã nằm đâu đó giữa núi rừng, biển khơi. Khi một người chồng cô đơn qua năm tháng, không tin có ngày vợ mình an toàn vượt biển để đoàn tụ, đành phải lấy một người chưa hề quen biết để cùng góp gạo thổi cơm – Thì đó không phải là lỗi lầm. Không ai phụ ai. Không ai phản bội ai. Đó là biến chuyển lịch sử phụ họ. Đó là định mệnh, là sự tàn nhẫn của thời cuộc, là cái giá con người phải trả. Ai trong chúng ta mà không mang một cây thánh giá trên vai?! Không nặng hơn, không nhẹ hơn; khác nhau ở chỗ vác như thế nào!?Chỉ là nhẹ hay nặng thôi! Trong những hoàn cảnh ấy, người ta không có sự lựa chọn. Cuộc sống buộc họ phải sống tiếp.

Phải chăng tiếp tục sống đôi khi cũng là một cách giữ gìn phẩm giá của mình. Để khi gặp lại nhau về sau, với mỗi người một đời sống riêng, thì điều họ trao cho nhau là sự cảm thông và tha thứ. Cảm thông để hiểu rằng định mệnh đã an bài, không ai phản bội ai. Chớ trách móc, chớ kết tội. Cần tha thứ. Tha thứ để nhẹ lòng, để giữ phần đẹp nhất của nhau, phần đã từng thuộc về nhau trước khi lịch sử xé đôi, và để khép lại một chương đời đau thương; chứ tha thứ không có nghĩa là phải quay về lại với nhau. Ta gọi đó là tình nhân bản.

Lỗi đâu ở kẻ đổi thay – Chỉ do định mệnh đẩy ngày xa nhau.

Thương nhau chẳng giữ được nhau – Thì xin giữ lấy nỗi đau dịu dàng.

Mai sau gặp lại muộn màng – Mỗi người một ngả… vẫn mang nghĩa tình.

Tha thứ để nhẹ lòng mình – Tha cho số phận lênh đênh tháng ngày.

Có những Đôi Bờ khắc nghiệt hơn — những gia đình bị xô lệch vì lịch sử. Người tập kết mang người vợ mới về Nam khi người vợ miền Nam vẫn nuôi con thành đạt và mỏi mòn chờ chồng suốt 20 năm, tạo ra hoàn cảnh những trái tim không biết phải trách ai, chỉ biết tự hỏi vì sao số phận lại chia người ta ra làm hai nửa như vậy.

Lại có Đôi Bờ còn đau hơn nữa, khi một người cha vì sợ mất chức, mất danh trong Đảng nên không dám bảo lãnh chính con ruột của mình ra khỏi trại cải tạo, nhưng lại nhận tiền để cứu một người xa lạ. Ở đó, Đôi Bờ không chỉ là khoảng cách, mà là vết cắt của lương tâm, là nơi người ta buộc phải đối diện với chính mình.

Nhưng Đôi Bờ đâu chỉ nằm ngoài xã hội, ngoài lịch sử. Ngay trong một mái nhà nhỏ, đôi khi cũng có những dòng sông lặng lẽ chảy qua. Có những người chồng bước sang một bờ khác của đam mê và phản bội, để lại người vợ đứng bên này với nỗi đau không gọi thành tên. Có những người vợ lạc vào cơn mê đỏ đen, để gia đình dần dần trôi xa như chiếc thuyền đứt neo. Những ranh giới ấy không ai dựng lên bằng tay, nhưng lại hiện ra rất rõ trong ánh mắt, trong bữa cơm, trong khoảng cách của hai người từng nằm sát bên nhau.

Thiếu gì trường hơp Đôi Bờ đâu chỉ chia vợ chồng, cha con. Có khi nó chia cả những người bạn từng lớn lên bên nhau, từng chung một giấc mơ tuổi trẻ. Một người ở lại thành phố, khoác áo sĩ quan miền Nam; người kia vào bưng, trở thành cán bộ của phía bên kia. Đến ngày gặp lại sau 75, khoảnh khắc họ nhìn thấy nhau qua song sắt — một người tù, một người cai tù — là khoảnh khắc mà cả hai đều hiểu rằng tình bạn ngày xưa đã bị lịch sử xé làm đôi, không phải bằng dao, mà bằng những lựa chọn mà họ không còn quyền từ chối. Rồi người bạn trở về ép uổng lấy người vợ của bạn mình, là người con gái mà cả hai từng thương chung thuở học trò. Không phải vì phản bội, mà vì thời cuộc đã đẩy mỗi người trôi sang hai bờ đỏ vàng khác, để khi quay lại, tình bạn ngày xưa chỉ còn là một vết đen trong ký ức, muốn quên nhưng thật khó.

Những Đôi Bờ nói trên— dù âm thầm, dù riêng tư — nhưng chính là những vết thương sâu nhất mà chiến tranh để lại trong lòng người Việt

Các bạn mến, đại dương không những chia đôi đất nước, nó xé nát cả những cuộc đời. Đôi Bờ của biển cả, Đôi Bờ của lịch sử, Đôi Bờ của định mệnh – tất cả đã hoà lại tạo thành một nỗi đau chung của dân tộc. Một vết cắt thứ Ba, quá rộng, quá to, và sâu nhất. Ba lần chia cắt, ba dòng nước – một nhỏ, một hẹp, một mênh mông – nhưng nỗi đau vẫn chỉ có một. Đó là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng ở hai bờ, nhìn nhau mà không thể bước. Tuy nhiên, có điều lạ nhất – càng xa quê hương, lòng càng nhớ, càng thấm nghĩa tình người. Lịch sử có thể chia đời ta từng đoạn, kể luôn cả gia đình ta ra từng khúc, nhưng lại không chia được tấm lòng của người Việt với người Việt trên quê hương thứ hai. Và với thời gian, lòng người cũng hiểu điều còn lại sau cùng, không phải là biên giới hay chiến tuyến, mà là bàn tay muốn nắm lấy bàn tay, cho dù, như đã từng – cách một dòng sông – và nay cách một đại dương

Khi viết về Đôi Bờ theo cái nhìn của lịch sử dân tộc, chúng ta không thể không nhắc đến thi văn và âm nhạc Việt qua các Đôi Bờ lịch sử ấy. Nơi lịch sử dựng ra Đôi Bờ, âm nhạc lại mở ra những con đường. Nơi chiến tranh đẩy người ta xa nhau, âm nhạc lại giữ họ lại gần. Nhạc và thơ vượt qua được ranh giới, nối lại những bờ xa vắng bằng một câu thơ nhung nhớ, bằng một câu hò à ơ tình tự. Vì thi ca và âm nhạc là hơi thở, là tiếng thở dài ai oán của cả hai bờ. Thi văn và âm nhạc luôn là nơi mọi người gởi gắm những nỗi chia ly, lòng nhung nhớ, tình yêu thương mà lời nói thường không đủ mạnh, không đủ chiều sâu để cất lên. Mỗi giai đoạn lịch sử đều để lại một dấu mốc cho những Đôi Bờ.

Với dòng sông Bến Hải, Lam Phương đã sáng tác “Chuyến Đò Vĩ Tuyến” kể về một cô gái đưa người yêu vượt sông Bến Hải trong đêm “ Đêm nay trăng sáng quá anh ơi – Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu”. Một bản nhạc mà mỗi câu hát như run lên vì sương khuya và nỗi đợi chờ.

Ngày đất nước bị chia đôi ở vĩ tuyến 17, khi từng đoàn người lặng lẻ rời miền Bắc để tìm Tự Do, nhạc sĩ Anh Bằng đã viết “Nỗi Lòng Ngươi Đi”. Bài hát mang theo tiếng thở dài của hàng trăm ngàn thân phận người lên đường mà còn ngoái lại quê nhà. Bản nhạc không kể chuyện bằng sự kiện, mà bằng nỗi nhớ, bằng tiếng gọi quê hương từ lòng của những kẻ buộc phải rời đi.

Có những bài hát không cần nói đến nỗi đau thương, nhưng chỉ một câu thôi cũng đủ làm tim người nghe thắt lại. Trong “Bên Bờ Đại Dương”, khi nhạc sĩ Hoàng Trọng và Hồ Đình Phương viết “Đất nước tôi màu thắm bên bờ Đại Dương, Bắc với Nam, tình nối qua lòng Miền Trung…”, đó là tiếng vọng của một người vừa trải qua cuộc chia đôi 1954, đứng bên bờ Nam nhớ qua bờ Bắc. Giữa hai miền là dãy Trường Sơn, là những mái tranh nghèo Bắc Giang, là ruộng ngọt phương Nam. Tuy trong bản nhạc không có khóc than, nhưng trong sự hùng tráng của nó có một nỗi sầu sâu đậm: dù chia đôi, dân tộc vẫn giữ niềm tin nghĩa tình có thể được nối qua lòng miền Trung.

Giữa những Đôi Bờ của lịch sử, còn có những đôi bờ riêng – đôi bờ của định mệnh và tôn giáo. “Chuyện Tình Buồn” của Phạm Duy, phổ từ bài thơ của Phạm văn Bình, gốc Đông Hà, Quảng Trị, mang tâm sự một cuộc tình tan vỡ vì người nam và người nữ không thể bước chung qua một cánh cửa tôn giáo – Một cánh cửa luôn rộng mở cho mọi người, nhưng lại khép lại cho đôi tình nhân trẻ tuổi – Đôi Bờ không nằm trên bản đồ, mà nằm trong trái tim, để khi gặp lại nhau chỉ còn “thương người em năm cũ, thương góa phụ bên sông”.

“Chuyện Một Cây Cầu Đã Gảy” được Trầm Tử Thiêng sáng tác ngay trong năm 1968. Bài hát gắn liền với cây cầu biểu tượng cho xứ Thần Kinh, bị đánh sập trong Tết Mậu Thân ở Huế. Sáng tác này xem như một khúc ai điếu. Cấu nối hai phía Hữu Ngạn và Tả Ngạn, nối chợ Đông Ba, phu khố Gia Hội, phố Phan Bội Châu với các trường học Quốc Học, Đồng Khánh, Nguyễn Tri Phương, Thiên Hữu, Bình Linh, Đại Học Huế, chợ Bến Ngự; nối Đại Nội, khu Thành Nội, Mang Cá cùng quân y viện Nguyễn Tri Phương với khu hành chánh, tòa Tỉnh Trưởng, khu đại học cùng bệnh viện Trung Ương Huế, nhà Ga Huế, Đập Đá. Một vài nhịp cầu bị nổ mìn và nguyên thành phố Huế chìm trong tang tóc – một phần đời của Huế bị bứng khỏi sự bình yên vốn từng có theo sự lặng lờ của dòng sông Hương. Đặc biệt giai điệu bản nhạc mang âm hưởng Nam Bình – Nam Ai, cổ kính của xứ Thần Kinh, như những tiếng than dài ai oán của thành phố chịu quá nhiều tang thương. Bản nhạc này được nhắc đến như một lời tiễn biệt cho phần linh hồn của Huế, không phải vì một vài nhịp bị sập mà cả một ký ức chung bị vỡ, một nỗi đau mà dân Huế mang theo suốt đời – cho dù về sau cây cầu được sửa lại, tô màu, lên đèn, nhưng tinh thần Đôi Bờ của cây cầu không bao giờ được nối lại. Lịch sử sẽ ghi đầy một trang đen tối.

 Bạn thân mến, có những nỗi nhớ không hướng về một cá nhân, mà hướng về cả một đời. Trong “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc – mà chúng ta biết đến, qua những công việc giúp người tỵ nạn định cư, cọng tác và hướng dẫn nổi tiếng của chương trình nhạc Asia, người kêu gọi và góp sức trong việc xây dựng Tượng Đài Chiến sĩ Việt Mỹ tại Westminster, và nhạc sĩ của nhiều tình ca tuyệt vời, kể cả bài Saigon Ơi! Vĩnh Biệt – khi tiếng hát cất lên “Cho tôi xin lại ngọn đồi…Cho tôi xin lại bờ rừng…Cho tôi xin một lần chàoCho tôi xin một mộ phần”, đó không chỉ là lời xin của một người tỵ nạn đơn giản, màlà lời khấn của một người lính đã mất quê hương, mất đồng đội, mất cả nơi để trở về. Những ngọn đồi ấy, bờ rừng ấy, không còn trên bản đồ, nhưng vẫn còn nguyên trong ký ức – nơi anh em từng nằm chung hầm, chia từng nhúm gạo xấy, từng hơi thở giữa cái sống và cái chết. Và nỗi đau đớn nhất, không phải là lưu vong, mà biết rằng mình không thể trở về để chào những bạn đã khuất. Xin hãy niệm mỗi câu hát là một nén hương thắp cho những đồng đội đã nằm xuống, và ngay cả cho một phần đời của mình đã nằm lại bên kia bờ. Bài hát này, không phải chỉ là ký ức chiến trường, mà còn là ký ức của những người ở lại nhìn bạn bè ra đi mãi mãi – khiến bao chiến sĩ chúng tôi nhỏ lệ.

Mấy chục năm trước, ca nhạc sĩ Nam Lộc trình bày cho cộng đồng người Việt Tỵ Nạn bản nhạc Người Di Tản Buồn rất nhiều lần, không những trên sân khấu mà  trong những công viên, những khuôn viên nhà thờ, nhà hội đoàn…Trong thước phim đen trắng cũ kỹ ấy, Nam Lộc đứng trước cả ngàn người. Không có sân khấu lộng lẫy, không ánh đèn màu, chỉ một đờn guitar và một micro đơn sơ và tiếng hát nghẹn ngào của một người từng sống với nỗi đau của dân tộc. Xung quanh ông là những gương mặt trẻ, nam nữ, đứng chen nhau, mắt mở lớn, lặng đi như bị cuốn vào từng câu hát. Họ là thế hệ vừa rời quê hương, còn nguyên nỗi bàng hoàng của những ngày vượt biển, vượt biên. Phía sau họ, những mái đầu bạc, những cụ ông cụ bà khoác áo len cũ, đứng nép dưới bóng cây. Nhiều người tỏ dấu xúc động. Có lắm cụ chắp tay trước ngực, như muốn chặn cơn nghẹn đang dâng trào trong con tim; có bà cúi mặt, cầm vạt áo lau nước mắt, không phải chỉ vì bài hát buồn, mà vì bài hát nói đúng nỗi lòng của thế hệ lưu vong.

Mọi người đứng yên, như bị giữ lại bởi sức nặng của ký ức. Khi Nam Lộc cất lên đoạn cuối – đoạn từng làm bao trái tim rướm máu – cả đám đông như nín thở, không một lời nói, không một ai nhúc nhích. Chỉ có tiếng hát, tiếng nức nở, cùng tiếng thở dài của những người mang quê hương trong tim suốt một đời.

https://www.facebook.com/watch/?v=975442624207928

Một người khác, không có số quân, và bạn thân của tôi, cũng đã hát “Người Di Tản Buồn”. Bs. Lương Quang Thịnh chỉ là một người thích hát, với mái tóc dài lãng mạn của thời sinh viên. Nhưng giọng hát lại mang một nỗi xót xa rất thật – do lẽ anh đã lớn lên giữa mùa hè Đỏ Lửa, khi bạn bè trong xóm, và cả người thân bị đôn quân năm 1972, rồi ngã xuống quá sớm. Anh là kẻ may mắn được tiếp tục cắp sách đến trường. Nhưng sự may mắn ấy lại trở thành một vết thương âm ỷ. Là nỗi day dứt của người ở lại nhìn tuổi trẻ của bạn bè mình hóa thành bia mộ.

Có lẽ vì vậy, khi anh hát, mắt anh sâu và buồn đến lạ – như nhìn xuyên qua bao năm tháng thấy lại những gương mặt đã mất. Giọng hát anh vững, không phô trương, nhưng mỗi chữ như mang sức nặng của con người từng chứng kiến chiến tranh từ phía sau cánh cửa gia đình. Anh cùng người yêu vượt biên khi đang còn là sinh viên năm thứ Tư Đại Học YK Saigon, mang theo hành trang, không chỉ là ước mơ của tuổi trẻ, mà còn là hình ảnh của những người nằm lại trên những chiến trường lớn nhỏ, trên các con đường bờ rừng của quê hương. Vì vậy khi anh cất lên “Người Di Tản Buồn”, ta không chỉ nghe tiếng hát của một người tỵ nạn, mà là tiếng thở dài của một thế hệ của những người trai không cầm súng nhưng vẫn mang trong lòng một cuộc chiến chưa chấm dứt. Và tôi nghĩ, chứng kiến những người bạn trẻ đã nằm xuống vĩnh viễn – sự bất lực, sự ray rứt của người ở lại – rất gần với nỗi đau mà Nam Lộc từng viết, từng cất cao tiếng hát.

Trong bài “Một Lần Yêu” của Phạm Mạnh Cương, sáng tác năm 1968, câu cuối “Xin nhớ rằng hợp tan có khi – Em gối mộng anh xuôi vạn lý – Hẹn ngày nao trên bến quê hương – Thuyền về đây rũ áo phong sương – Đôi mình chung ngắm mây hoàng hôn” không chỉ là lời hẹn vu vơ của đôi lứa, mà là lời hẹn của những người ly hương với quê hương yêu dấu của mình. Dù đời khi hợp khi tan, dù mỗi chúng ta kẻ ngược người xuôi, chúng ta vẫn còn có chung một bến đợi…trong hoàng hôn của cuộc đời.

Nếu “Một Lần Yêu” mở ra một bến đợi cho ta tìm về, thì trong “Em Còn Nhớ Mùa Xuân”, NS. Ngô Thụy Miên mở ra một giấc mơ hồi hương giữa những ngày lưu lạc. Bài này được Ông viết năm 1978, khi ông một mình đang ở trong trại tỵ nạn Pulau Bidong, xa người yêu. Nỗi nhớ ở đây không chỉ là nhớ mùa Xuân, mà là nhớ một thành phố đã mất, nhớ một quê hương chưa biết bao giờ gặp lại. Qua câu “những thành phố em đã đi qua…nhưng có đâu bằng Saigon hôm qua- nhưng có đâu bằng Saigon mai sau – em có mơ ngày hát câu hồi hương”, đó không phải là chỉ là một nỗi nhớ cho thành phố, mà là luyến tiếc nhớ nhung cho một đời sống đã từng. Và câu hát ấy trở thành lời thì thầm của bao người xa xứ: dù chân bước qua bao nhiêu nơi, đường xa bao vạn dặm, trái tìm ta vẫn hướng về chốn duy nhất để trở về. Bản nhạc này là một trong những bài mến chuộng nhất tại hải ngoại.

Trong hành trình về thăm lại quê hương, có những con đường vẫn nguyên như ngày ta rời, vẫn nắng mai rực rỡ, hàng hoa giấy vẫn đỏ thắm, tiếng chim vẫn gọi nhau. “Con Đường Tôi Về”, một sáng tác bất hủ để đời của NS. Lê Tín Hương khi về thăm cha bệnh nặng sau 15 năm cách biệt, đã được viết lên với những cảm xúc thật khi đối diện với cảnh cũ người xưa. Mặc dù nó không óng ả mượt mà như mấy câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan “Lối xưa xe ngưa hồn thu thảo – Cảnh đấy người đây luống đoạn trường”, nhưng NS Lê Tín Hương giúp ta nhìn thấy cô gái áo trắng ngày nào nay đã bước vào đời với nụ hồng lã lơi, người thương phế binh lê đôi nạng gỗ giữa chợ đời, người cha trở về thân thể hao gầy sau những năm tù tội, người mẹ quê vá áo đời bằng đôi tay gầy guộc – những hình ảnh lột tả đúng sự thật của một xã hội nuôi nhau trong dối gian và bần cùng tột độ. Những câu ấy không trách móc ai. Chúng chỉ đặt tay lên những vết thương, dù nhẹ, nhưng vẫn đủ để ta thấy nhói, thấy đau. Và để ta nghiệm ra không phải là thấy mái nhà xiêu vẹo, vườn hoang ruộng trống mà xót xa bùi ngùi, mà chính là thấy thân phận người thương yêu của mình đã bị thời gian tiêu hao, xoáy mòn – những người muôn năm cũ hồn ở đâu bây giờ – Đôi Bờ vì thế không chỉ là câu chuyện của chia cắt, mà còn là câu chuyện của những bước chân trở lại – trở lại để nhận biết rằng quê hương vẫn đẹp, nhưng đẹp trong một nỗi buồn không thể gọi tên.

Có những chia ly không phải vì lỗi của ai, mà vì thế sự nghiêng ngữa đẩy đưa. Trong “Đã Một Lần”khi Bác sĩ Nhảy Dù tài hoa Phạm Gia Cổn viết “Trách chi người ai lỗi ai -Trách chi người mi ướt cay -Trách chi người thôi đã xa nhau kiếp này- Thì thôi có trách trăm lời cũng thừa. Mùi thơm khăn áo đi vào cỗ tích tôi”, đó chỉ là một lời thở dài của một người từng hiểu trách móc không làm vơi nỗi đau, mà chỉ làm nặng thêm những gì đã mất. Bởi vậy, Ông chọn cách buông – buông cho nhẹ lòng mình, và nhẹ luôn cả người ấy. Giữa những Đôi Bờ định mệnh, đôi khi điều nhân hậu nhất ta có thể làm cho nhau là không trách cứ gì nhau. Trả lại một khăn tang cho quảng đời của nhau.

Một trong những bản nhạc do bác sĩ quân y Phạm Anh Dũng sáng tác về nỗi nhớ quê hương, “Tình Khúc Hồi Hương”, rất được mến mộ, không những vì âm điệu rất nhẹ nhàng, dỗ dành, quyến rũ mà lời nhạc rất đơn sơ đầy tình quê mộc mạc. Chỉ cần một dòng sông xưa, một con đường cũ, một hàng cây xanh là đủ để đánh thức cả một nỗi niềm quê hương – đã từng tiềm ẩn trong quá khứ – Lời nhắn nhủ “này người yêu dấu, anh muốn đưa em về dòng sông xưa làng cũ…thăm ngôi trường cũ…thăm con đường cũ…” không chỉ là lời hẹn của đôi lứa, mà là lời thì thầm của những kẻ đi quá xa, mong một ngày được trở về nơi mình từng bắt đầu. Dịu dàng chân thật, bài hát nhắc ta quê hương không bao giờ mất – nó chờ đợi ta, trong khói sương chiều, lặng lẽ bình an như hàng cây xanh lá thắm ngàn năm.

 Trong lời Việt của Lữ Liên, bản nhạc“Đôi Bờ” mang hai nhịp thở: một nhịp của chia lìa tuyệt vọng, và một nhịp của giấc mơ hồi hương. Khi nghe “bóng con thuyền vượt ngàn trùng…Mãi mãi mất nhau”, ta tưởng như đó là một cuộc biệt ly không còn đường trở lại. Thế nhưng, ở cuối bài, hình ảnh “đêm qua anh mơ bóng quê hương…đứng dưới bóng mát…đón em khi tan trường” lại hiện ra như một phép mầu nhỏ. Các bạn ơi! Đó không phải là thực tế – Đó là giấc mơ của những người đã mất quá nhiều, chỉ còn chút ký ức để níu lại. Giữa hai bờ tuyệt vọng và hy vọng, bài nhạc nhắc ta rằng: đôi khi, chính giấc mơ là nơi duy nhất ta còn có thể gặp lại nhau. Người nhạc sĩ nghiệp dư trong bài hát là quân nha sĩ Lý Văn Quý, với giọng hát sống động và truyền cảm.

Chắc ai trong chúng ta cũng nằm lòng bản nhạc “Tôi Đưa Em Sang Sông” của Nhật Ngân & Y Vũ. Câu hát “Nàng đã thay một lối về. Quên cả người trong gió mưa” làm ta liên tưởng đến câu thơ đầy mộng mơ “Em là gái trong song cửa, anh là mây bốn phương trời”. Là tiếng thở dài của những phận người bị hoàn cảnh đẩy xa nhau, giống như bao đôi lứa bị chia lìa do thời cuộc: một chàng trai lên đường làm nhiệm vụ, một người phải rời quê vì chiến cuộc, như trong câu “Đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời. Rỏ ràngbài hát trang trải đúng nỗi niềm của những Đôi Bờ định mệnh: yêu nhau mà không đến được với nhau, không phải vì lỗi của ai, mà vì đời đã chọn cho họ một con đường khác. Con đường của trai thời loạn.

            Bạn mến, có những cuộc ra đi tưởng như chỉ là một cơn mộng dữ giữa trùng trùng sóng gió. Từng chúng ta năm ấy bước lên con thuyền không hẹn ngày trở lại, mang theo một niềm tin mỏng manh đến mức chỉ cần một cơn gió ngược cũng đủ làm chao đảo. Giữa biển đời mịt mù, đôi khi chính trái tim cũng mỏi mòn, không biết đâu là bến, đâu là bờ, đâu là nơi mình sẽ gọi “miền đất hứa”.

Thế rồi trời đất vẫn âm thầm nâng đỡ. Sau bao năm bụi mờ phủ lên ký ức, “Tạ ơn đời đã ban, Cám ơn người cưu mang, Thuyền được về bến đỗ – Giữa biển đời ly tan”— Nơi đất nước dang tay rộng đón mình, nơi gia đình được dựng lại từ những viên gạch đầu tiên của hy vọng. Từ một cuộc ra đi vô vọng, từng chúng ta đã tìm thấy một mái ấm, một hạnh phúc không chỉ nở hoa mà còn kết trái, nuôi dưỡng nhau trong tin yêu của những ngày tươi sáng trước mắt “Nhìn hoa trái đẹp đời – 50 Năm đắp xây, hạnh phúc trong tình đầy

Để từ đó trái tim học cách biết ơn. Biết ơn đất nước đã mở cửa đón mình. Biết ơn cuộc đời đã cưu mang mình. Biết ơn người bạn đời đã cùng mình đắp xây một mái nhà đầy ắp tiếng cười. Và biết ơn chính mình — người đã đi qua nửa thế kỷ bụi mờ mà vẫn luôn ráng giữ mình làm một người tốt, trân quý tất cả những gì đã nhận để sẳn sàng chia xẻ cho những kẻ kém may mắn. Vì bạn ơi, trong lớp bụi của năm tháng, có những hạt bụi làm cay mắt, nhưng cũng có những hạt bụi lấp lánh như ánh nắng ấm áp cuối chiều, mà nếu bạn biết nhặt lấy, dành giụm và nâng niu, chúng sẽ thành những câu chuyện đẹp, nhân ái và đáng nhớ.

Mời bạn đọc thưởng thức bản nhạc “50 Năm Bụi Mờ” của nhạc sĩ Lê Tín Hương. Một bản nhạc chan chứa tình cảm, và có lẽ là bản duy nhất được viết ra trong năm 2025 – tặng chung cho bao người buộc phải rời bỏ quê hương mình. Người trình bày bản nhạc là quân y sĩ Phạm Quang Tố. Điều làm người nghe xúc động nhất khi nghe “50 Năm Bụi Mờ “không phải là kỹ thuật hay sự trau chuốt, mà là giọng hát của một người bình thường — một người không đứng trên sân khấu lớn, không mang danh ca sĩ chuyên nghiệp, nhưng lại hát bằng cả trái tim đã đi qua nửa đời phong sương. Trái tim của một đời người từng trải qua di cư 54, nay lại phải một lần nữa xa quê hương. Nên trong từng câu hát của anh, tôi nghe được hơi thở của một kiếp người: ấm và chân thật, mộc mạc mà thấm sâu. Có lẽ chính vì anh không phải ca sĩ chuyên nghiệp nên mỗi chữ, mỗi nốt đều mang một vẻ đẹp rất người. Không có sự phô diễn, chỉ có sự trải lòng. Không có sự hoàn hảo, chỉ có sự chân thành. Và đôi khi, chính sự chân thành ấy lại làm người nghe dễ rơi nước mắt hơn bất kỳ kỹ thuật nào.

Phải chăng qua giọng hát ấy, ta nhìn thấy hình ảnh của chính mình trong đó: một cuộc ra đi tưởng như vô vọng, những năm tháng bão tố dập dồn, những lúc nguyện cầu khi niềm tin quá mong manh. Đồng thời cũng đồng cảm với tấm lòng biết ơn dành cho đất nước đã cưu mang, cám ơn cuộc đời đã cho mình một tương lai, cho mình đắp xây hạnh phúc từ những điều căn bản nhỏ bé nhất.         Để chợt thấy giờ đây “hoàng hôn đến hững hờ – Nghe từ cõi hoang sơ, hồn xưa cũng bụi mờ”

Bạn đọc thân mến, khi tôi gần chấm dứt bài viết của mình, tôi nhân được bản nhạc “Đôi Bờ Xa” của NS. Lê Tín Hương. Bản nhạc là một giai điệu nâng niu từng nỗi nhớ, còn ca từ thì như nối dài thêm câu chuyện Đôi Bờ, bất chợt đến và chạm vào nơi sâu nhất, nơi những con sóng ký ức vẫn còn thì thầm. Như một hơi thở dài của biển đêm. Giai điệu mềm, chậm, nhưng không hề buồn rũ vì nó mang cái buồn của người từng trải, của những bước chân đã đi quá nửa đời người nhưng vẫn còn ngoái về phía quê hương. Để biết rằng tình người, tình quê, tình đời… vẫn còn đậm đà. Người nghe có cảm giác như mình đang đứng trước một đại dương thật sự – rộng, sâu, và đầy những điều khó gọi thành tên. Sóng trong bài hát không chỉ là sóng biển, mà là sóng lòng: những đợt nhớ, đợt thương, đợt tiếc nuối của một đời người xa xứ.

Cao trào của cảm xúc nằm ở đoạn “Dẫu đôi bờ xa nhưng tình ta mãi đậm đà”. Ở đây, giai điệu nâng lên nhẹ nhàng, không bi lụy, mà như một lời tự nhủ, một lời hứa âm thầm. Người nghe cảm nhận được một thứ tình cảm rất đẹp: không đòi hỏi, không trách móc, chỉ lặng lẽ tồn tại — như một dòng nước ngầm chảy mãi giữa hai bờ. Khi bản nhạc kết thúc, người nghe không thấy nặng nề. Ngược lại, có một sự bình yên rất lạ. Như thể sau bao nhiêu năm đi qua bão giông, cuối cùng ta cũng hiểu rằng: có những điều không thể gặp lại, nhưng vẫn có thể giữ lại. Có những bờ xa không thể bước tới, nhưng vẫn có thể đứng từ bên này mà thương.

“Đôi Bờ Xa” vì thế không chỉ là một bản nhạc. Nó là một lời tâm sự của cả một thế hệ, là tiếng thở dài của những người đã rời đất nước nhưng tâm hồn vẫn còn gắng bó với quê hương.

Quý bạn thân mến, nhìn lại hành trình nửa thế kỷ phủ bụi mờ, ta chợt hiểu rằng mỗi đời người, dù đi xa đến đâu, cũng mang trong mình một sợi dây vô hình buộc về quê cũ. Những năm tháng lưu lạc tưởng như chỉ là chuyện riêng của một gia đình, một kiếp người, nhưng thật ra lại hòa vào câu chuyện lớn hơn của cả dân tộc – câu chuyện của những đôi bờ đã từng bị chia cắt, của những con tim phải rời nhau trong lặng lẽ, của những bước chân ra đi trong âm thầm mà không biết ngày trở lại.

Và chính trong khoảnh khắc nhận ra mình đã tìm được bến đỗ, ta lại thấy rõ hơn nỗi mong manh của những phận người đứng hai phía dòng sông lịch sử — luôn mang theo niềm tin lúc đầy lúc vơi, mang theo nỗi nhớ lúc sáng lúc mờ, nhưng chưa bao giờ thôi hy vọng một ngày nào đó được nhìn thấy nhau trong bình yên.

Quý bạn đọc thân mến, khi nhìn lại những Đôi Bờ đã đi qua theo thời gian, ta mới hiểu rằng lịch sử Việt Nam không chỉ viết bằng chiến thắng đẩm máu, chiếm đồi này hay đồn bót kia, hoặc những bản hiệp định trên giấy tờ, mà còn bằng những khoảng cách: khoảng cách của một cây cầu bị đánh sập, của một lằn vĩ tuyến phi quân sự vẫn bị mưu mô lấn chiếm trong bóng tối, của một phòng tuyến bị đẩy xuống, của một dòng sông đổi vai trò, và của một đại dương mênh mông. Nhưng điều kỳ lạ hơn nửa là càng nhiều Đôi Bờ, người Việt càng học cách tìm nhau. Từ những người di cư 54, đến những gia đình chờ tin nhau dù đã có con sông Bến Hải và vĩ tuyến 17, rồi những con thuyền vượt biển sau 1975 mang theo hy vọng mong manh…tất cả đều cho thấy một điều: khoảng cách chưa bao giờ đủ lớn để dập tắt khát vọng tự do. Và điều đẹp nhất không phải là khi hai bờ liền lại, mà khi ta nhận ra trong sâu thẳm của trái tim, có những tiếng gọi chào, những nhung nhớ, những thương yêu, tình quê hương, gởi qua âm nhạc và thi ca, là động lực giúp ta hiểu thêm rằng chưa bao giờ tồn tại một dòng sông đủ lớn, đủ mạnh để chia cắt tình người. Những đôi bờ lịch sử rồi sẽ rời xa, thay vào đó là những Đôi Bờ của lòng người, nơi ta vẫn hướng về nhau, dù ở nơi nào cũng tìm đường đến với nhau – như bao trăm ngàn người Việt bên ngoài Việt Nam đã và đang tiếp tục bảo lãnh thân nhân mình đến sống cạnh nình, chung bờ với mình – hay gởi tiền về giúp xóm làng, người quen xưa – là điều sẽ còn mãi.

Mong rằng thi ca âm nhạc, khi đưa vào bài viết Đôi Bờ này, không phải để làm loãng tính chất lịch sử khắc nghiệt của Đôi Bờ, cũng không làm bài viết mềm đi. Nó làm cho trái tim người đọc…ấm lại, đồng thời làm thêm một điều rất nhỏ mà lại rất đẹp: rót vào câu chuyện lịch sử một hơi thở của hối tiếc, của một lời xin  lỗi, của hy vọng và tha thứ độ lượng. Để nói lên rằng, không có dòng sông nào có thể vĩnh viễn làm chia cách tình người, nếu chúng ta nhìn lại những trang lịch sử Đôi Bờ bằng trái tim. Với những hiểu biết vừa lý vừa tình ở trên đã giúp Đôi Bờ, vốn nguyên thủy là một bài viết khô khan, trở thành một bài viết không chỉ để đọc, mà để cảm thông, để nhớ và để thương. Một bài viết về hành trình cho những người đứng giữa đôi bờ, nhưng trái tim thì chưa rời bờ nào. Và rằng âm nhạc luôn là chiếc cầu duy nhất, tình cảm nhất, nhẹ nhàng nhất, giúp nối những linh hồn đã tản mác khắp nơi. Cho thấy CS diệt được mọi thứ nhưng không thể nào cấm được những cái mà chúng từng sợ nhất: Tinh Thần Tự Do Dân Chủ, Nền Giáo Dục Nhân Bản, nền Văn Học Nghệ Thuật và Nhạc Vàng của Miền Nam Việt Nam.

Vĩnh Chánh
tháng 4, 2026

Thursday, May 21, 2026

Ông Bà Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại ngoại ô của Luân Đôn Anh Quốc

Đây là một tấm hình rất quý giá, và hiếm có, vì chỉ có một mà không có hai. Tấm hình này chụp Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu, cùng với Đệ Nhứt Phu Nhơn Nguyễn Thị Mai Anh ngồi tại băng ghế ở một thành phố ngoại ô Luân Đôn của nước Anh.
Tấm hình này công chúng chưa bao giờ từng nhìn thấy qua, vì Tổng Thống, và Phu Nhơn sống ẩn dật tại một thành phố nhỏ ở nước Anh nên không muốn xuất hiện, hay phỏng vấn bởi một cơ quan truyền thông nào.
 

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Phu Nhân tại Đài Loan 1975

Đây là một tấm hình rất đặc biệt vì nó chưa bao giờ xuất hiện với công chúng. Tấm hình này rất quý giá, và hiếm có, vì chỉ có một mà không bao giờ có hai về Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu, và Đệ Nhứt Phu Nhơn, Nguyễn Thị Mai Anh.
Một viên chức của chánh phủ Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) đang đưa bàn tay để ra dấu cho các ký giả đừng có chụp hình, lúc Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu, và Phu Nhơn Nguyễn Thị Mai Anh cùng con trai là Nguyễn Quang Lộc bước vào phòng dành cho khách VIP tại phi trường Đài Loan vào ngày 22 tháng 8 năm 1975.
Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu tới phi trường để đưa tiễn Phu Nhơn Nguyễn Thị Mai Anh cùng con trai là Nguyễn Quang Lộc lên phi cơ đến Luân Đôn để chuẩn bị cho ngày nhập học sắp đến tại một trường ở đó. Sau này người con trai út là Nguyễn Thiệu Long được sanh ra ở Anh.
Ngày 20 tháng 9 năm 1975, cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu đã trả lời cho báo The New York Times sau khi Ông đặt chân đến Luân Đôn rằng, mục đích chuyến đi này của Ông là để đoàn tụ với vợ, và con trai, họ đã từ Đài Loan đến Luân Đôn cách đây một tháng. Hiện nay con trai Ông, là Nguyễn Quang Lộc đang theo học tại một trường tiếng Anh ở Luân Đôn.
Khi mấy người con sang Huê Kỳ để tiếp tục con đường học vấn vào năm 1990, thì cả nhà cũng đến định cư tại thành phố Boston, vì Phu Nhơn Nguyễn Thị Mai Anh muốn ở gần những người con của mình.
Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Martino Nguyễn Văn Thiệu đã mệnh chung vào ngày 29 tháng 9 năm 2001 tại Boston sau khi bị đột quỵ ở nhà. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được hỏa táng tại Boston. Lúc mất ông hưởng thọ 78 tuổi. Một thời gian sau đó thì Phu Nhơn dời nhà về miền nắng ấm là miền Nam của tiểu bang California.
Kể từ năm 2019 thì Đệ Nhứt Phu Nhơn Mai Anh đã bắt đầu yếu dần, và không còn minh mẫn như xưa nên người con trai lớn là anh Nguyễn Quang Lộc đang hành nghề Nha Sĩ ở miền Nam California, Hoa Kỳ đã đón Phu Nhơn về thành phố Riverside để ở với gia đình của anh. Trước đây, khi còn khỏe mạnh, Phu Nhơn sống một mình ở thành phố Santa Ana thuộc quận Cam.
Phu Nhơn của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Christine Nguyễn Thị Mai Anh đã về nước Chúa, hưởng đại thọ 91 tuổi vào sáng Thứ Sáu, ngày 15 Tháng Mười, năm 2021 tại nhà của người con trai lớn là anh Nguyễn Quang Lộc ở Đông Bắc San Diego County, thuộc miền Nam California.
Xin tất cả Quý Vị hãy thắp một nén nhang để tỏ lòng ngưỡng mộ, và tôn kính đến một phụ nữ kính yêu, và quý mến của chúng ta. Đệ Nhứt Phu Nhơn Nguyễn Thị Mai Anh lúc còn sống ở Việt Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã hết lòng chăm lo cho đời sống của người dân nước Việt Nam Cộng Hòa. Đệ Nhứt Phu Nhơn rất thương dân chúng của mình với tất cả tấm lòng nhân hậu của Bà. Đệ Nhứt Phu Nhơn Nguyễn Thị Mai Anh xứng đáng là bậc Mẫu Nghi Thiên Hạ.
Đồng thời, xin Quý Vị cũng thắp một nén nhang để tỏ lòng tri ân, tưởng nhớ, và kính trọng đến Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu đã hết lòng vì dân, vì nước để lèo lái con thuyền đầy sóng gió, phong ba, và bão táp trong gần 8 năm trời khói lửa mịt mùng.
51 năm đã trôi qua! Bây giờ có đốt đuốc tìm kiếm khắp thiên hạ cho đến 50 năm sau đi nữa, thì cũng không có người nào giống như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, và Đệ Nhứt Phu Nhơn Nguyễn Thị Mai Anh đâu.
San Jose, ngày 21 tháng 5 năm 2026