Đây là một tấm hình rất quý giá, và hiếm có, vì chỉ có một mà không có hai. Tấm hình này chụp Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu, cùng với Đệ Nhứt Phu Nhơn Nguyễn Thị Mai Anh ngồi tại băng ghế ở một thành phố ngoại ô Luân Đôn của nước Anh.
Tấm hình này công chúng chưa bao giờ từng nhìn thấy qua, vì Tổng Thống, và Phu Nhơn sống ẩn dật tại một thành phố nhỏ ở nước Anh nên không muốn xuất hiện, hay phỏng vấn bởi một cơ quan truyền thông nào.
50 Năm Người Việt tại Hoa Kỳ
Việt Nam Việt Nam Nghe Tự Vào Đời
Thursday, May 21, 2026
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Phu Nhân tại Đài Loan 1975
Đây là một tấm hình rất đặc biệt vì nó chưa bao giờ xuất hiện với công chúng. Tấm hình này rất quý giá, và hiếm có, vì chỉ có một mà không bao giờ có hai về Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu, và Đệ Nhứt Phu Nhơn, Nguyễn Thị Mai Anh.
Một viên chức của chánh phủ Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) đang đưa bàn tay để ra dấu cho các ký giả đừng có chụp hình, lúc Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu, và Phu Nhơn Nguyễn Thị Mai Anh cùng con trai là Nguyễn Quang Lộc bước vào phòng dành cho khách VIP tại phi trường Đài Loan vào ngày 22 tháng 8 năm 1975.
Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu tới phi trường để đưa tiễn Phu Nhơn Nguyễn Thị Mai Anh cùng con trai là Nguyễn Quang Lộc lên phi cơ đến Luân Đôn để chuẩn bị cho ngày nhập học sắp đến tại một trường ở đó. Sau này người con trai út là Nguyễn Thiệu Long được sanh ra ở Anh.
Ngày 20 tháng 9 năm 1975, cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu đã trả lời cho báo The New York Times sau khi Ông đặt chân đến Luân Đôn rằng, mục đích chuyến đi này của Ông là để đoàn tụ với vợ, và con trai, họ đã từ Đài Loan đến Luân Đôn cách đây một tháng. Hiện nay con trai Ông, là Nguyễn Quang Lộc đang theo học tại một trường tiếng Anh ở Luân Đôn.
Khi mấy người con sang Huê Kỳ để tiếp tục con đường học vấn vào năm 1990, thì cả nhà cũng đến định cư tại thành phố Boston, vì Phu Nhơn Nguyễn Thị Mai Anh muốn ở gần những người con của mình.
Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Martino Nguyễn Văn Thiệu đã mệnh chung vào ngày 29 tháng 9 năm 2001 tại Boston sau khi bị đột quỵ ở nhà. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được hỏa táng tại Boston. Lúc mất ông hưởng thọ 78 tuổi. Một thời gian sau đó thì Phu Nhơn dời nhà về miền nắng ấm là miền Nam của tiểu bang California.
Kể từ năm 2019 thì Đệ Nhứt Phu Nhơn Mai Anh đã bắt đầu yếu dần, và không còn minh mẫn như xưa nên người con trai lớn là anh Nguyễn Quang Lộc đang hành nghề Nha Sĩ ở miền Nam California, Hoa Kỳ đã đón Phu Nhơn về thành phố Riverside để ở với gia đình của anh. Trước đây, khi còn khỏe mạnh, Phu Nhơn sống một mình ở thành phố Santa Ana thuộc quận Cam.
Phu Nhơn của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Christine Nguyễn Thị Mai Anh đã về nước Chúa, hưởng đại thọ 91 tuổi vào sáng Thứ Sáu, ngày 15 Tháng Mười, năm 2021 tại nhà của người con trai lớn là anh Nguyễn Quang Lộc ở Đông Bắc San Diego County, thuộc miền Nam California.
Xin tất cả Quý Vị hãy thắp một nén nhang để tỏ lòng ngưỡng mộ, và tôn kính đến một phụ nữ kính yêu, và quý mến của chúng ta. Đệ Nhứt Phu Nhơn Nguyễn Thị Mai Anh lúc còn sống ở Việt Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã hết lòng chăm lo cho đời sống của người dân nước Việt Nam Cộng Hòa. Đệ Nhứt Phu Nhơn rất thương dân chúng của mình với tất cả tấm lòng nhân hậu của Bà. Đệ Nhứt Phu Nhơn Nguyễn Thị Mai Anh xứng đáng là bậc Mẫu Nghi Thiên Hạ.
Đồng thời, xin Quý Vị cũng thắp một nén nhang để tỏ lòng tri ân, tưởng nhớ, và kính trọng đến Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu đã hết lòng vì dân, vì nước để lèo lái con thuyền đầy sóng gió, phong ba, và bão táp trong gần 8 năm trời khói lửa mịt mùng.
51 năm đã trôi qua! Bây giờ có đốt đuốc tìm kiếm khắp thiên hạ cho đến 50 năm sau đi nữa, thì cũng không có người nào giống như Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, và Đệ Nhứt Phu Nhơn Nguyễn Thị Mai Anh đâu.
San Jose, ngày 21 tháng 5 năm 2026
Monday, May 18, 2026
Tuesday, January 27, 2026
Chiếc ghe lẻ loi trên Biển Đông
‘ Chiếc ghe lẻ loi trên Biển Đông ’ Ngày 27 tháng 01 năm 2026.
By 黃應泉 (Ha Huynh), Brampton, Canada.
Cách đây 50 năm về trước, vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 ‘Nước Việt Nam Cộng Hòa’ sụp đổ, chế độ Cộng sản Bắc Việt lên nắm quyền. Ba triệu người Hoa ở miền Nam Việt Nam là những người đầu tiên phải chịu đựng sự tàn phá chưa từng có, bị thanh toán và đàn áp không ngừng. Một số người đã nhảy lầu tự tử, và vô số gia đình đã vượt biển bằng thuyền đã thiệt mạng trên Biển Đông (South China Sea).
Vào thời điểm đó, tôi đang ở trong sân trường đại học, bị đuổi học vì bày tỏ sự bất đồng chính kiến trong đợt cải tạo tư tưởng. Vợ tôi, một giáo viên tiểu học, bị "Hội Giáo viên Yêu nước" chỉ trích là ‘không hiệu quả sau khi cải tạo ’ và bị ra lệnh đình chỉ giáo chức. Cha tôi, một tiểu thương gia , là kẻ thù số một của chủ nghĩa cộng sản lúc bấy giờ, bị gắn cho các tội như ‘tư sản mại bản’,‘thành phần ngoan cố’, ‘ bóc lột công nhân’ v.v…cùng nhiều tội khác. Toàn bộ tài sản tư nhân của ba tôi bị quốc hữu hóa, và bị lưu đày đến một "vùng kinh tế mới" để tự lo liệu. Chứng kiến toàn bộ số tiền tiết kiệm vất vả kiếm được suốt mấy chục năm bị phá hủy, cha tôi không thể chịu đựng nổi cú sốc lớn và đã chết vì đau buồn. Cả gia đình tôi đều bị ảnh hưởng. Việt Cộng dồn tôi vào đường cùng, không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chạy trốn bằng đường biển trong cuộc khủng hoảng người tị nạn. Thời điểm đó, sự can thiệp của Liên Hợp Quốc đã tạo ra cuộc khủng hoảng người tị nạn với hàng trăm nghìn người. Chế độ Việt Cộng cho phép người Hoa ‘cống hiến’ hoặc ‘dâng của’ để ra đi.
Một chiếc ghe đã bỏ xứ nhà quê hương ra đi lên đường lẻ loi trên Biển Đông vào ngày 16 tháng 5 năm 1979. Đó là một đêm tối tăm và giông bão. Với nước mắt lưng tròng và nỗi cay đắng, tràn ngập đau buồn và u sầu, tôi và vợ con xuống thuyền ‘Mỹ Tho MT072’, nói lời tạm biệt với Việt Nam, nơi tôi sinh ra và lớn lên suốt hai mươi sáu năm – nơi có ông bà, họ hàng và những ước mơ tuổi trẻ của tôi. Cơn bão chính trị do nhân tạo đã buộc tôi phải rời bỏ quê hương.
Chiếc thuyền gỗ mà chúng tôi đã đặt trước bị công an tịch thu vào phút cuối, và chúng tôi bị buộc phải chen chúc lên một chiếc thuyền khác do công an sắp xếp. Hai chiếc thuyền chở đầy người bị nhồi nhét vào một chiếc; Không ai dám tưởng tượng số phận của chiếc thuyền này khi gặp gió bão trên biển. Chiếc thuyền dài 18 thước và rộng 4 thước, chở tổng cộng 396 người. Nhiều người cố gắng lên thuyền đã tìm cách hối lộ công an bằng vài ba lượng vàng nhưng không thành công; Một số người khác không có tiền đã liều mạng vượt qua sự hỗn loạn và mạo hiểm dưới đầu súng cuối cùng đã thành công lên thuyền.
Đêm đầu tiên, con thuyền đi trên tuyến đường thủy nội địa, may mắn không có sóng gió. Những người lên thuyền sau cùng không thể vào cabin nữa và phải ngủ ở hai bên phía thuyền. Chúng tôi chen chúc nhau như cá mòi, một số người phải đi vệ sinh ngay tại chỗ, không phải vì không có nhà vệ sinh trên thuyền, mà đơn giản là vì không có chỗ để di chuyển. Đối với những người trong cabin, việc chen chúc đến nhà vệ sinh ở phía đuôi thuyền đòi hỏi rất nhiều nỗ lực và mất gần một tiếng đồng hồ.
Sáng hôm sau, chúng tôi ra khỏi trên vùng biển quốc tế. Một con sóng đập vào, làm ướt quần áo của chúng tôi khi chúng tôi ngồi xổm ở phía thuyền. Đến trưa, mặt trời làm khô quần áo; Khi trời mưa, tất cả chúng tôi đều ướt sũng, nhưng mặt trời lại làm khô ráo chúng tôi.
Ngày thứ ba, gió và sóng ngày càng dữ dội. Một con sóng khổng lồ đập vào, cuốn trôi hết lương thực khô đặt trên boong. Con tàu bắt đầu đung đưa; tiếng động cơ ngày càng lớn. Tôi thấy một vết nứt xuất hiện ở chỗ nối giữa boong trước và buồng lái, và con tàu bắt đầu ngả nghiêng. Nếu sóng tiếp tục đập vào, boong và buồng lái chắc chắn sẽ chia ra làm hai, và những người trên tàu sẽ không còn lựa chọn nào khác ngoài chấp nhận số phận.
Sáng ngày thứ tư, chúng tôi gặp phải những cơn sóng dữ dội, cao như mười tầng nhà, giống như chiếc thuyền lênh đênh trong biển sâu. Khi nhìn thấy vẻ mặt của tài công và bầu không khí căng thẳng của các thủy thủ, chúng tôi biết số phận của con tàu đã được định đoạt. Chúng tôi gặp nhiều tàu lớn không rõ quốc tịch. Các thủy thủ giương cờ cầu cứu SOS, nhưng tất cả đều lướt qua, bỏ lại con thuyền tị nạn của chúng tôi phía sau xa xa.
Đến ngày thứ năm, chúng tôi phải đối mặt với mối đe dọa của đói khát. Thức ăn không phải là mối lo ngại chính; Điều quan trọng nhất là thiếu nước. Nước uống trên tàu đã cạn kiệt. Vì chúng tôi chen chúc trên một chiếc thuyền, nên hoàn toàn hết thức ăn và nước uống. Khi màn đêm buông xuống, chúng tôi cảm thấy một nỗi sợ hãi và kinh hoàng chưa từng có. Thức ăn và nước uống đã hết, con thuyền chật vật di chuyển, và động cơ liên tục rít lên. Không ai dám tưởng tượng liệu con thuyền có thể đến được bình minh hay không, hoặc thậm chí liệu chúng tôi có thể nhìn thấy bờ biển hay không.
Những đứa trẻ tội nghiệp đều khát khô cổ họng, khóc nức nở. Đói khát khiến hai thanh niên ốm yếu và một bà lão trên tàu ngất xỉu.
Tôi đã chứng kiến cảnh tượng bi thảm và đau lòng nhất trên thế giới. Một cặp vợ chồng trẻ khóc nức nở, quyết định ném thi hài đứa con sơ sinh nín thở vì bị sốt rét bất trị xuống biển để "cho cá ăn" vì không còn lựa chọn nào khác. Nước mắt tuôn rơi trên khuôn mặt tôi; trái tim tôi đau nhói.
Sáng ngày thứ sáu là một ngày chúng tôi sẽ không bao giờ quên. Ngay cả ngày nay, hơn gần nửa thế kỷ sau, tôi vẫn cảm thấy nỗi sợ hãi dai dẳng mỗi khi thức giấc giữa đêm vì những cơn ác mộng. Chúng tôi chạm trán với những tên cướp biển Thái Lan vô cùng tàn bạo, chẳng khác gì thú vật.
Lúc đầu, chúng tôi tưởng đó là thuyền đánh cá và đã cầu cứu. Vài thủy thủ Thái Lan "lịch sự" tiến đến với hai bình nước. Chúng xem xét thuyền của chúng tôi thấy không có vũ khí, liền bắt đầu bóc cuớp. Vẫy tay, vài thủy thủ Thái Lan khác kéo đến, mang theo dao và cuốc. Chúng cướp sạch mọi vật có giá trị trên thuyền, lấy đi tất cả đồng hồ, nhẫn và dây chuyền của những người tị nạn. Chỉ đến lúc đó chúng tôi mới nhận ra chúng là ‘hải tậc’ cướp biển.
Ngay sau khi tàu cướp biển rời đi, một chiếc thuyền đánh cá khác xuất hiện phía sau chúng tôi.
Chúng tôi biết đó cũng là một chiếc tàu cướp, tài công tăng tốc tối đa để tránh né nhưng động cơ chiếc tàu quá mệt mỏi không nghe lịnh của tài công. tàu cướp nhanh chóng đuổi tới, bọn hải tặc trước tiên bắn một phát súng cảnh cáo để chiếc thuyền ngừng lại, rồi chiếc tàu cướp đâm mạnh vào phía cạnh thuyền chúng tôi. Mũi thuyền của chúng tôi bị nứt đôi, một số lượng nước biển khá lớn tràn vào cabin và con tàu sắp chìm; khi tàu cướp đâm vào thuyền của chúng tôi, một số người đứng bên cạnh phía thuyền tránh không kịp và rơi xuống nước, bị thương và thiệt mạng trên biển .
Bọn hải tặc nhảy sang thuyền thấy trên tàu có khá nhiều thanh niên, họ liên lạc với đồng bọn để tăng viện. Chẳng mấy phút , một tàu cướp khác xuất hiện. Hai tàu cướp tấn công tàu chúng tôi từ hai phía. Những tên cướp Thái Lan dùng búa rìu làm vũ khí, buộc những thanh niên trên tàu chúng tôi phải tập trung lên một trong những tàu cướp của họ để chúng lục soát. Chúng chĩa rìu vào cổ chúng tôi; những người trên tàu dâng vàng lá và đô la Mỹ. Chúng lấy hết đồ trang sức của chúng tôi, nhẫn, khuyên tai, vòng tay, thậm chí cả kính thiên văn và la bàn trên tàu. Sau khi lấy hết mọi thứ, chúng đẩy những thanh niên của chúng tôi xuống biển trước khi bỏ mặc con tàu đang chìm của chúng tôi cho số phận. Cứ thế, tàu cướp đến rồi đi, hứng chịu vô số lần bị bọn cướp tàn phá.
Khi tàu cướp bỏ đi, bóng tối bao trùm, và những người sống sót đều mệt mỏi với cuộc sống, mọi người đều im lặng và tuyệt vọng về tương lai. Khi còn dường sống đã vô nghĩa, chúng tôi không còn sợ chết nữa. Mũi tàu bị nứt do va chạm với tàu cướp, nước tràn vào cabin, và con tàu chao đảo muốn chìm. Tội nghiệp chiếc thuyền sắp chìm này vẫn lẽ lói không biết đi đâu trên Biển đông.
………………………………………………………………………………………………………
Cuối cùng, chiếc thuyền đã may mắn gặp chiếc tàu chở dầu của Đức (German Oil Tanker) cứu vớt và an toàn đưa chúng tôi đến Trại tị nạn Mả Lai ( Pulau Tangah, Malaysia). Chúng tôi ghi ơn chiếc tàu dầu của Đức này (Hình trên) .
‘Cước chú’ Đây là câu chuyện vượt biển diễn ra cách đây gần nửa thế kỷ, và ký ức vẫn còn sống động. Điều đau lòng và tàn khốc là, gần năm mươi năm sau, người ta bắt đầu quên đi những trí nhớ đau buồn này. Mục đích viết bài này là để thế hệ mới biết những gì đã xảy ra trong lịch sử của thế hệ trước; Chúng ta nên rút bài học lịch sử này để giúp chính quyền đương thời khỏi tái phạm những sai lầm của quá khứ gây đau thương cho nhân loại, từ đó chúng ta sẽ có một tương lai tốt đẹp hơn.
Subscribe to:
Posts (Atom)






