Wednesday, July 15, 2026

KÝ ỨC SÀI GÒN (2) - Song Thao

KÝ ỨC SÀI GÒN (2) - Song Thao

Ba nhà  hàng La Pagode, Givral và Brodard nằm trên đường Tự Do. Sau 1975, đường phố Sài Gòn bị đổi tên. Hầu hết các tên cũ đều không còn tồn tại. Đường Tự Do biến thành Đồng Khởi. Hầu như ai trong chúng ta cũng thuộc hai câu thơ bi hài sắc sảo của thi hào Vũ Hoàng Chương: “Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý / Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do”. May là ông Lê Lợi vẫn trụ lại được. Đường Lê Lợi thẳng góc với đường Tự Do cũng có vài nhà hàng mà giới văn nghệ và báo chí thường lui tới. Đó là nhà hàng Kim Sơn và Thanh Thế.

Nhà báo Nguyễn Đạt của báo Người Việt California, nhớ lại: “Không biết quán Kim Sơn lập nên ở Sài Gòn lúc nào, nhưng chúng tôi nhớ thuở nhỏ, sau khi di cư từ miền Bắc vào Sài Gòn được vài năm, đã thấy quán Kim Sơn tọa lạc ở góc đại lộ Bonard (tức đại lộ Lê Lợi sau đó) và đường Nguyễn Trung Trực. Lúc đó, đi theo những người anh tới quán Kim Sơn, chúng tôi đã được biết mặt biết tên các nhà thơ Quách Thoại, Kiêm Minh, Trụ Vũ (Quách Thoại, Kiêm Minh đã mất từ lâu năm) và nhiều văn nghệ sĩ khác, ngồi thường trực mỗi ngày tại quán Kim Sơn”.

https://www.namkyluctinh.org/PICTURE/BaiViet13/dai-lo-le-loi-21.jpeg
Nhà hàng Kim Sơn (tầng trệt) và nhà hàng Bồng Lai (sân thượng). Góc đường Lê Lợi- Nguyễn Trung Trực. (Khoảng 1950).

Thú thật là tôi ít lai vãng tới quán Kim Sơn cũng như Thanh Thế. Thanh Thế “kiêu kỳ” hơn Kim Sơn nên cứ kính nhi viễn chi cho cái túi tiền bớt thương tổn. Dân sành ăn không thể quên được món bún suông nổi tiếng của Thanh Thế. Vẫn nhà báo Nguyễn Đạt hồi ức về Thanh Thế: “Quán Thanh Thế tọa lạc ở góc đường Nguyễn Trung Trực-Tạ Thu Thâu, cách quán Kim Sơn vài chục mét. Quán Thanh Thế là ngôi nhà nhỏ hơn nhiều so với ngôi nhà làm quán Kim Sơn, nhưng sang trọng xinh đẹp, bàn ghế cũng sang trọng phù hợp với không gian của nó. Một nửa số bàn ghế bày ra hàng hiên, phía đường Nguyễn Trung Trực, vì phía đường Tạ Thu Thâu vừa hẹp, vừa có những sạp hàng vải vóc-mỹ phẩm cao cấp dài dọc con đường. Với vẻ sang trọng của quán Thanh Thế, lớp tuổi sinh viên chúng tôi rất ngại vào, như thường vào ngồi ở quán Kim Sơn cùng trên một con đường. Khách ngồi quán Thanh Thế (cũng là nhà hàng như Kim Sơn) thường chỉ uống cà phê hay một vài chai bia, để vừa từng ngụm nhâm nhi từng hơi thả khói, vừa ngắm nhìn người qua kẻ lại, đặc biệt là ngắm nhìn các giai nhân mỹ nữ Sài Gòn vào mua sắm tại chợ vải vóc mỹ phẩm cao cấp ở đường Tạ Thu Thâu. Ða số khách ở tuổi gần trung niên, thuộc giới trung lưu và các nhà văn nhà báo lúc đó, đa số không thiếu tiền tiêu như các nhà văn nhà thơ thời Trương Tửu, Nguyễn Vỹ nhà văn An Nam khổ như chó (Thơ Nguyễn Vỹ, Gửi Trương Tửu). Chúng tôi thường gặp các nhà văn viết truyện dài đăng hàng ngày trên các nhật báo (gọi là nhà văn feuilleton) như Ngọc Linh, Dương Hà… ngồi quán Thanh Thế”. Ngày nay, Kim Sơn cũng như Thanh Thế đã mất dấu. Cả hai đã biến thành các cửa hàng trung tâm vàng bạc và đá quý!

Chuyện bể dâu nghe chỉ biết thở dài. Đường Lê Lợi không chỉ mất dấu những cửa tiệm, con đường này còn được coi như con đường văn hóa của Sài Gòn ngày xưa, nay cũng im ắng những trang sách. Ngoài nhà sách Khai Trí đã trở thành huyền thoại với ông chủ Nguyễn Hùng Trương nặng lòng với sách vở, còn san sát những nhà sách khác. Mấy ai còn nhớ tới nhà sách Sài Gòn số 28A Lê Lợi, tiệm sách Thanh Tuân số 56, nhà sách Văn Hữu số 28C, nhà sách Lê Phan tọa lạc tại ngã tư Lê Lợi – Pasteur. Rồi còn Vĩnh Bảo, Phúc Thành, Văn Hữu, Nguyễn Trung, Dân Trí, Việt Bằng thong dong bên nhau.

https://www.namkyluctinh.org/PICTURE/BaiViet13/dai-lo-le-loi-03.jpeg
Bản đồ dường Lê Lợi năm 1970 và vị trí các nhà sách, nhà hàng .

Nhiều nhà sách như vậy nhưng đường Lê Lợi vẫn có khu bán sách cũ nổi tiếng nằm bên bờ tường của Bộ Công Chánh và Giao Thông Vận Tải. Tác giả Lê văn Nghĩa hồi ức về khu này trong bài “Phố Sách Sài Gòn Xưa”: “Theo tư liệu, khoảng thời gian ký Hiệp định Genève, các khu bán sách cũ tập trung ở đường Cao Thắng rồi tiến lên khu vực chợ Cũ, bày bán từng đống hỗn tạp tại lề đường Tôn Thất Đạm thông ra đường Nguyễn Huệ. Cũng trong thời gian này, các quầy sách cũ còn xuất hiện trên lề đường Phạm Ngũ Lão, trông sang bến xe buýt, kéo dài xuống tận ngã tư Ký Con. Sau này, nhờ sự tiếp tay của một số dân bán sách cũ kiểu hàng rong, các gian hàng dần dần ào ạt tràn về đường Lê Lợi, giới hạn từ bót cảnh sát Lê Văn Ken (Bệnh viện đa khoa Sài Gòn) đến đường Pasteur. Từ vài gian hàng nhỏ, thị trường sách báo cũ đã bành trướng mạnh mẽ, lấn ra lề đường cản trở lưu thông nên cảnh sát đến giải tán triệt để. Song những gian hàng sách “chạy” chỉ tản mác khi có bóng dáng cảnh sát rồi lại trở về vỉa hè khi cảnh sát rút đi như chơi cút bắt. Rất kiên nhẫn đối phó với cảnh sát nên một thời gian sau, khu bán sách này được Tòa Đô chánh chấp thuận cho tồn tại, có đóng thuế đất hằng năm vài ngàn đồng và vài chục đồng thuế chỗ ngồi mỗi ngày. Khu sách Lê Lợi đã vô sổ bộ từ ngày ấy. Bên khu bán sách cũ có những quyển sách rất hiếm, giá cao; nhưng cũng có những quyển sách của các tác giả Việt Nam vừa xuất bản chừng một hai tháng đã trở thành sách cũ và bán với giá rẻ chừng phân nửa giá bìa. Lý giải hiện tượng này, báo Đời cho biết: “Đáp các câu hỏi trong trường hợp nào các tác phẩm văn chương giá trị đã bị đày ải đến chốn tục lụy sỗ sàng này, các bạn hàng cho biết: các loại tiểu thuyết - kể cả của các tác giả tên tuổi, hiếm khi bán hết số ấn bản tiên liệu và các khu sách báo sôn chính là nơi tiêu thụ phần thặng dư, sau khi sách bị phá giá nặng nề”. Ngoài việc được mua sách Việt giá rẻ, sinh viên, học sinh, người mê sách có thể tìm được sách ngoại ngữ mới nhất được thải ra từ các công sở, nhà ở của người nước ngoài. Các loại tạp chí góp phần mời gọi các đấng mày râu từ trẻ đến sồn sồn ra khu sách cũ Lê Lợi là Playboy, Penthouse, Playmate... Nam thanh niên đến đó để xem ké, để dấm dúi mua vì không đâu ngoài chợ sách này có bán”.

Nói tới chuyện sách cũ không thể không nhắc tới một người bán sách đặc biệt trên đường Lê Lợi. Nhà văn Phạm Công Luận có lần thắc mắc: “Có người kể vào những năm 1960 - 1970, một sạp sách ở đây với chủ nhân là một người trung niên, khét tiếng vì thuộc lòng các loại sách, tên sách, tên tác giả kể cả sách Pháp, nên rất tiện cho khách mua. Không biết thân phận của ông này ra sao sau năm 1975, ông ra chợ sách Đặng Thị Nhu, Trần Nhân Tôn, Nguyễn Thị Minh Khai để tiếp tục bán sách cũ hay là bỏ nghề?”.

Người bán sách đặc biệt này tên là Thực. Người thấp nhỏ, giọng nói ở tông cao, hai bắp chân lớn và bành ra vì ngày nào cũng cuốc bộ đi và về từ nhà ở Bến Vân Đồn, bên kia cầu Ông Lãnh, đến chỗ bán sách ở lề đường Lê Lợi. Ngày mới di cư vào Nam, tôi là hàng xóm của anh nên biết khá rõ. Anh không học cao nhưng rất thông minh và có trí nhớ tốt. Nơi anh bán chỉ có một giá sách dựa sát vào tường rất gọn nhẹ. Kho sách của anh là cái kẹt giữa hai bức tường của hai căn nhà. Anh có làm cái cửa có khóa để chứa sách. Sách của anh hầu hết là sách giáo khoa Anh và Pháp. Anh thuộc lầu tên sách tiếng Pháp và Anh không những của các lớp trung học mà còn của từng năm học các Đại học ngành Y, Dược, Kiến Trúc, Kỹ Thuật, Luật…Sinh viên hỏi sách anh biết ngay là sách anh có hay không. Bên cạnh giá sách có vài chiếc ghế đẩu để khách ngồi đọc sách. Đọc xong có mua hay không, anh vẫn tươi cười với khách. Anh mua sách của sinh viên học sinh đã học xong, không cần nữa và bán cho lớp kế tiếp. Tiền lời không bao nhiêu. Anh sống rất nghèo khổ nhưng tôi tin chắc đã có nhiều bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, kiến trúc sư nên danh là nhờ mớ sách cũ của anh. Người nào không có tiền mua sách, anh cho ngồi ghế đọc và ghi chú thoải mái. Sau 1975, tôi không gặp lại anh nữa. 

Sách ngoại ngữ thời đó bán tại nhà sách Albert Portail, sau đổi tên thành Xuân Thu, nằm trên đường Tự Do, phía ngoài hành lang Eden, đắt như vàng. Hàng lang Eden từ đường Tự Do thông qua đường Nguyễn Huệ là nơi có nhiều cửa hàng loại xịn mà dân Sài Gòn ít ai không biết. Vào hành lang từ phía đường Tự Do có tiệm bán vải Mai Khanh, nhà hàng Ramuntcho, tiệm tạp hóa Abdul Mohamed, tiệp thực phẩm đồ hộp nhập cảng Lien Seng…Cuối hàng lang, ngã ra đường Nguyễn Huệ có một tiệm sách ngoại ngữ nhỏ, nơi tôi thường mua sách, rẻ hơn ờ Xuân Thu nhiều. Ngày đó tôi say mê những tập truyện ngắn của nhà  văn Ý Alberto Romania và Ernest Hemingway. Sau này, khi viết truyện ngắn, tôi nghĩ mình có chịu ảnh hưởng của hai nhà văn này.

Ra khỏi hành lang Eden phía Nguyễn Huệ là đụng đầu tòa Đô Chánh trên đường Lê Thánh Tôn. Quẹo trái, đi dọc theo đường Lê Thánh Tôn là tới Đại học Văn Khoa, tọa lạc trên nền Khám Lớn cũ. Nhà văn nhà báo Nguyễn Thụy Long, dân di cư, đã chứng kiến di tích này: “Tôi qua cầu Quay (vị trí cầu Khánh Hội hiện nay) về hướng Sài Gòn, vô tình qua đường Lê Thánh Tôn, qua Khám Lớn Sài Gòn cũ, nay bị phá sập, còn trơ gạch vụn cỏ đã mọc đầy. Mấy năm trước, sinh viên di cư đã cắm trại ở đây chờ sắp xếp về ký túc xá Minh Mạng. Tết năm di cư đầu tiên, trời lạnh như tết miền Bắc, các sinh viên di cư nhớ quê hương nổi lửa trại, liên hoan đón giao thừa, cùng nhau nhắc lại những cái tết quê hương…”.

3
Cổng trường Đại Học Văn Khoa Saigon trên nền Khám Lớn cũ.

Tôi đã có bốn năm dùi mài kinh sử tại nơi chốn này. Tuổi học trò ngơ ngác như nai tơ, tới tuổi sinh viên đã ra dáng thanh niên, các cụ bảo tuổi đó ở nhà quê đã có vợ có con rồi. Nhưng chúng tôi ở thị thành, tuổi đó là tuổi của yêu đương. Những mối tình sinh viên khi thành khi tan đã để lại những kỷ niệm ngọt ngào lẫn đắng cay nhưng đầy văn nghệ. Văn Khoa có số nữ sinh ngang ngửa với nam sinh. Đặc điểm của Văn Khoa là có nhiều bóng hồng xinh đẹp. Diệm My, hoa khôi từ Huế vào, Hồng Khắc Kim Mai rất hiện sinh và “à la mode”, những người đẹp chưa nổi tiếng Thanh Lan và Hoàng Oanh, Nghiêm thị Thúy, ái nữ của chính khách Nghiêm Xuân Thiện, và Ngô Đình Lệ Thủy luôn có vài anh cốt đột hộ vệ. Nhà văn Nguyễn văn Sâm nhớ khá đậm về cô sinh viên…cách trở này: “Đó là một cô gái tương đối đẹp. Nhu mì, mềm mỏng. Lúc nào cô cũng có ba bốn người hộ vệ, họ không dữ dằn hay vô phép gì nhưng luôn luôn ngó chừng với cặp mắt nhà nghề lưu ý ai đến quá gần ái nữ của ông cố vấn họ Ngô Đình. Thường bọn nhà quê chúng tôi kháo nhau hôm nay có Lệ Thủy đi học và đến nhìn. Bao giờ cô ấy bị ai đó nhìn nhiều thì đều mỉm cười gật đầu chào thân thiện rất Tây phương để người đó biết ý mà tiến tới làm quen hay lãng xa. Tôi cũng có vài ba lần được chào vì tò mò, nhưng đến gần để làm quen thì không. Mình vốn nhát làm quen với bất kỳ ai, vả lại cũng sợ cô ấy xổ tiếng Tây mình ú ớ mặc dầu các bạn đều quả quyết rằng với người không quen cô ta đều nói tiếng Việt”.

Văn nghệ tại khu đất trống của trường, phía đường Lê Thánh Tôn là thời kỳ rực rỡ của không những giới sinh viên chúng tôi mà còn của giới văn nghệ sung mãn của Sài Gòn. Nơi đây có một khu nhà tiền chế được cất lên cho Hội Chợ Triển lãm chi đó bị bỏ lại. Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên Học Đường CPS chiếm phần lớn làm trụ sở. CPS hồi đó có mặt Lê Đình Điểu, Trần Đại Lộc, Phạm Phú Minh, Đỗ Quý Toàn, Hà Tường Cát, Phan văn Phùng. Một căn nhỏ được nhóm Sử Địa của trường dùng làm nơi in cours cho sinh viên. Sau lưng trụ sở CPS là trụ sở Hội Nhu Đạo của Giáo sư Phạm Lợi và hội Kiếm Thuật của ông Hoàng Việt, thân phụ nhạc sĩ Nam Lộc. Ngoài ra, còn trụ sở của ca đoàn Nguồn Sống của Nghiêm Phú Phát mà Thanh Lan là một thành viên.

Nhưng văn nghệ hơn hết là những buổi văn nghệ chùa vào mỗi tối thứ sáu của quán Văn tại bãi cỏ nơi đây. Ông bạn Hoàng Xuân Sơn, một “cư dân” sinh sống tại khu đất này kể lại trong cuốn “Cũng Cần Có Nhau”: “Đầu năm 1967, nhận thấy trụ sở CPS tọa lạc ở một địa điểm khá thơ mộng, mấy anh em nảy ra ý kiến dựng một quán cà phê văn nghệ làm nơi tụ họp thường xuyên cho giới trẻ. Mọi người nồng nhiệt hưởng ứng. Về tên quán, cả nhóm bàn luận sôi nổi, cuối cùng chọn tên thật vắn tắt nhưng mang đủ ý nghĩa: Văn”. Thức uống của quán rất đơn giản: cà phê, nước ngọt hiệu Con Cọp của BGI, xá xị hiệu Con Nai của hãng Phương Toàn, nước cam Bireley’s, đá chanh đường và “chanh rum” có pha chút rượu rhum. Đặc biệt là mỗi tuần quán có tổ chức “Đêm Văn Nghệ Thứ Sáu” mời một tác giả hoặc một ban nhạc mới nổi đến trình diễn giới thiệu với các bạn trẻ. Khán giả ngồi la liệt trên sân thưởng thức nhạc và tiếng hát của Trịnh Công Sơn – Khánh Ly, Vũ Thành An – Thanh Lan, Từ Công Phụng – Từ Dung, Lê Uyên và Phương.

https://uploads.nguoidothi.net.vn/content/b84ad251-e60a-4439-bec8-05c1b2d0bb70.jpg
Quán Văn và các thành viên sáng lập, năm 1967. Từ trái: Ngô Vương Toại, Hoàng Xuân Giang, Trần Đại Lộc, Hoàng Xuân Sơn. Hình: Đỗ Việt Anh.

Mới đây, Khánh Ly đã tiết lộ chi tiết thú vị về lần đầu tiên hát tại quán Văn: "Tới ngày 19 tháng 11 năm 1967, tôi chính thức bước lên sân khấu hát với ông Trịnh Công Sơn ở Quán Văn. Đó cũng là lần đầu tiên tôi hát Diễm Xưa. Lúc đó, tôi đơn giản chỉ là hát, không có vấn đề gì được đặt ra cả. Quả thực, đó là một đêm nhạc đáng nhớ trong cuộc đời tôi. Tôi không có gì, phải đi mượn áo, mượn váy, mượn cả giày nữa để đến gặp các anh em trong đêm nhạc đó. Tôi không bao giờ nghĩ có đông đảo người tới xem đến vậy, cứ nghĩ là hát cho mấy anh em nghe thôi. Tôi quá sợ, dù bản tính của tôi cũng đàn ông. Tôi sợ đứng cạnh tác giả là ông Trịnh Công Sơn, sợ đứng hát trước một đám người quá đông như vậy. Cho nên, tôi bỏ luôn đôi giày ra. Chỗ đó chỉ là một khoảng đất trống lồi lõm, có gạch đá nên tôi sợ đứng không vững. Về chuyện "nữ hoàng chân đất", thực ra đó là lần đầu tiên tôi đứng hát trước một đám đông không dưới 1000 người. Tôi không còn giữ nổi bình tĩnh vì tôi có rất ít kinh nghiệm về ca hát, giao lưu với đám đông. Ông Sơn rất khó tính, thấy tôi cứ vịn vai ông vì đứng không vững, ông liền la tôi: "Bỏ tay ra, đứng hát cho nghiêm chỉnh". Đó là lí do tôi bỏ guốc cao ra để đứng chân đất. Tôi cứ nghĩ rằng điều này sẽ giúp tôi lấy lại bình tĩnh. Và quả thực, nhờ thế mà tôi trình bày được tất cả những bài hát của ông Trịnh Công Sơn trong suốt đêm đó, là khoảng 30 tới 40 bài hát trong một đêm”.

gia Dinh la nho, sai gon la thuong - khung troi hoa mong cua con duong ta di hinh anh 2
Trịnh Công Sơn đàn cho Khánh Ly hát tại quán Văn năm 1967.

Ông Đỗ Việt Anh, một thành viên trong ban tổ chức “Đêm Văn Nghệ Thứ Sáu”,  nhớ lại: “Đêm Văn Nghệ Thứ Sáu” diễn ra thuận lợi được khoảng 4, 5 tháng. Đến khoảng cuối năm 1967, vào chương trình thứ 15 hay 16 gì đó đã xảy ra vụ lộn xộn, có tiếng súng nổ, mọi người bỏ chạy tán loạn. Sau chuyện này, quán Văn không tổ chức sinh hoạt văn nghệ nữa”.

(Còn tiếp)

05/2026

1
Tiệm thực phẩm Lien Seng.

https://www.namkyluctinh.org/PICTURE/BaiViet13/dai-lo-le-loi-11.jpeg
Trụ sở Hạ Viện và tượng đài Thủy Quân Lục Chiến (thập niên 1970)

https://www.namkyluctinh.org/PICTURE/BaiViet13/dai-lo-le-loi-13.jpeg
Cao ốc Eden (ngã tư Lê Lợi – Nguyễn Huệ)

https://www.namkyluctinh.org/PICTURE/BaiViet13/dai-lo-le-loi-15.jpeg
Tiệm kem Pole Nord và Thương Xá Tax.

https://www.namkyluctinh.org/PICTURE/BaiViet13/dai-lo-le-loi-16.jpeg
Thư viện Abraham Lincoln. (khoảng 1970)

https://uploads.nguoidothi.net.vn/content/47f6f255-a694-4f4f-8696-8322af4a0d1f.jpg
Thiếu nữ Sài Gòn năm 1965

 Xem tiếp phần 3

KÝ ỨC SÀI GÒN (3) - Song Thao

KÝ ỨC SÀI GÒN (3) - Song Thao

Dân Sài Gòn rất xởi lởi, có sao nói vậy người ơi. Nhớ, ngày mới di cư vào Sài Gòn, gia đình tôi mua tạm một căn nhà tường gỗ mái tôn ở Vĩnh Hội, ngay bên phía cầu Ông Lãnh. Hàng xóm là dân lao động rất dễ mến. Chỉ vài ngày là anh Hai, chị Ba, dì Tư với nhau. Tên thiệt cất để dành trong khai sanh, không ai xài tới. Những anh Hai chị Ba mới chân ướt chân ráo tới ngụ cư bỗng thấy mình Sài Gòn hẳn ra. Cũng hồn  nhiên xé đôi tờ giấy bạc một đồng làm hai mảnh 5 cắc. Nhưng cũng có những người hỏi móc sao ngoài Bắc đã hòa bình độc lập mà dzô Nam làm chi? Lũ trẻ vốn hồn nhiên, thấy mấy đứa Bắc kỳ nói giọng khác đã hè nhau trêu chọc. Tác giả Nguyễn Hữu Huấn kể lại chuyện trong lớp học: “Hai thằng Bắc kỳ con nhất định ngồi cạnh nhau tạo thế liên hoàn “dựa nhau mà sống“ trong cái lớp học 27 trự Nam kỳ con. Bọn chúng hè nhau trêu chọc, ăn hiếp hai đứa. Mỗi lần ra chơi hai thằng Bắc kỳ con luôn tìm chỗ ít người mà đứng để khỏi nghe bọn Nam kỳ đọc thơ chọc quê chửi bới. Thằng Vọng, đứa đầu xỏ và to con nhất đám (bây giờ đang ở Canada) leo lên cây vú sữa giữa sân, đọc thơ rang rảng: "Bắc kỳ ăn cá rô cây / Ăn nhằm lựu đạn...chết cha Bắc kỳ”. Một thằng khác sẵn giọng phụ họa : "Có cái thằng nhỏ nó "đao" làm sao/ Lỗ đ. nó dính cái cọng “rao” /Người ta ai mà kỳ như “dzậy“ ?”. Thế là cả bọn đồng loạt chỉ ngay vào hai đứa rồi rống lên: "Thôi rồi ! Bắc kỳ, Bắc kỳ !”. Bản nhạc “Khúc Nhạc Đồng Quê” của Thúc Đăng rất thịnh hành đã được chế lời: “Quê hương tui Bắc kỳ nhào dzô quá trời / Bên bờ sông bên bờ ao...trồng rau muống!”

Dân Sài Gòn không ăn rau muống. Đó là thứ rau dành cho heo. Dân Bắc thì lại rau muống làm chuẩn trong các bữa cơm. Vậy nên rau muống mới…phạm tội. Ông cha sở nhà thờ Vĩnh Hội trong bài giảng vào thánh lễ ngày Chủ Nhật đã căn dặn bà con trong Nam hãy coi những di dân như anh chị em cùng có một cha chung. Và ông mang chuyện rau muống ra…giảng. Đại khái ông cho biết rau muống rất bổ, người Bắc ăn rau muống là khôn ngoan. Dân Nam chê họ không nấu canh mà dùng nước rau muống làm canh, ông cha dễ thương biện hộ là tinh túy của rau khi luộc nằm trong nước rau, người Bắc dùng nước rau muống là biết tận dụng tất cả sự bổ béo của rau muống. Ông cha sở này mặt mũi khó đăm đăm nhưng là dân Sài Gòn chính hiệu bà lang trọc. Hầu như ai tới Sài Gòn cũng cảm thấy như được yêu mến như người nhà đi xa trở về.

Nhà văn Vương Hoài Uyên từ Quảng Ngãi vào học Văn Khoa Sài Gòn là một người được Sài Gòn đón tiếp như con dân của Sài Gòn hoa lệ: “Ðầu thập niên 70, tôi bước chân vào giảng đường Đại Học. Từ miền Trung vào, Sàigòn đối với tôi như một miền đất hứa vừa hấp dẫn, vừa hứa hẹn những điều mới lạ. Vào đến thành phố được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông, tôi thấy cái gì cũng lạ lẫm. Từ những tòa nhà cao tầng, đến những con đường xe cộ tấp nập, đến những cô gái Sàigòn ăn mặc theo mốt Hippy, rồi áo dài tay Raglan, mini jupe…Một lần vào ngày Chủ Nhật, tôi đi xe Velo – Solex lên nhà một người chị ruột ở đường Lê Đại Hành. Lúc đi ngang qua Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, do mất bình tĩnh khi tránh một người đi bộ ngang qua đường, tôi bị té xe ngã giữa đường, bị một vết thương rách da cằm. Mấy người dân sống ở gần đó chạy đến đưa dầu cho tôi thoa. Đau thì ít, sợ thì nhiều, tôi hoảng hốt chẳng biết phải làm gì. Hồi đó, đâu có điện thoại để gọi người thân như bây giờ. Lúc đó, một anh thanh niên đi xe Honda dừng xe đỡ tôi dậy. Anh bảo tôi gởi tạm chiếc xe Velo cho một thanh niên đang ngồi sửa xe đạp ven đường trước Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, để anh chở tôi đến bệnh viện may vết thương ở cằm. Tôi đã gởi xe cho anh thanh niên không hề quen biết này, mà không hề có chút nghi ngại để cho anh thanh niên kia chở đến bệnh viện. Vị bác sĩ vừa may vết thương ở cằm tôi, vừa nói: “Em mà không may chỗ vết thương này thì sẽ trở thành một cái sẹo to đấy.” May xong vết thương, anh thanh niên tốt bụng kia lại chở tôi về chỗ cũ. Từ xa, tôi đã thấy chiếc xe Velo – Solex của tôi vẫn dựng bên đường. Tôi cảm ơn hai người thanh niên không quen biết kia và nghĩ sao Sàigòn lại có nhiều người tốt như vậy. Nếu là người gian, anh thanh niên kia có thể thu dọn đồ nghề rồi mang luôn chiếc xe của tôi đi thì ai biết đâu mà tìm. Hình ảnh hai con người tốt bụng đó vẫn mãi mãi ở trong ký ức tôi với lòng cảm mến và biết ơn sâu sắc. Sau này, trải qua bao nhiêu năm, có dịp vào Sàigòn đi ngang qua con đường Trần Quốc Toản, ngang qua Học Viện Quốc Gia Hành Chánh năm xưa, tôi vẫn nhớ về chuyện xưa với một chút ngậm ngùi dâu bể. Hai người thanh niên tốt bụng ngày xưa bây giờ làm gì? Ở đâu? Còn sống hay đã chết? Nếu còn sống, họ đã là những ông già trên dưới 80 tuổi. Trong lòng tôi, họ mãi mãi vẫn là biểu tượng cho một Sàigòn nhân hậu năm xưa”.

Ngày 30/4/1975, ngày tang tóc của Sài Gòn. Thành phố đổi chủ, đổi tên, Sài Gòn vong thân không còn là Sài Gòn nhân hậu của những tháng ngày cũ. Nhà thơ / nhà văn / nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn đã xót xa: “Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên / như giòng sông nước quẩn quanh buồn / như người đi cách mặt xa lòng / ta nhủ thầm em có biết không?... Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên / mất từng con phố đổi tên đường / khi hẹn nhau ta lạc lối tìm / ôi tình buồn như đã sống thêm”. Ca khúc làm bâng khuâng người Sài Gòn này được sáng tác trong tù vào cuối thập niên 1970. Thường nỗi nhớ của người xa Sài Gòn mới là nỗi nhớ da diết nhưng dù sao đó cũng chỉ là  nỗi nhớ hoài niệm từ xa. Ca khúc của Nguyễn Đình Toàn là nỗi nhớ thiết tha day dứt của người vẫn sống trong lòng Sài Gòn, còn trong cái mất. Vậy nên đây là ca khúc mang tính cách chứng từ của người mất Sài Gòn ngay trong lòng Sài Gòn. Ca khúc bị nhốt tại Sài Gòn cho tới khi Hồ Trường An được đi Pháp. Tại căn chung cư của Nguyễn Đình Toàn ở Cali, anh kể cho tôi nghe đường đi ra hải ngoại của ca khúc bất hủ này. Anh cho biết anh đã cùng Hồ Trường An ra bờ sông bên làng Báo Chí để hát cho An nghe và học thuộc lòng cả nhạc lẫn lời. Hồ Trường An không biết nhạc nên khi anh qua Pháp, hát cho nhạc sĩ ghi lại, ca khúc đã có vài điểm sai cả nhạc lẫn lời. Báo Quê Mẹ của Võ Văn Ái đã phổ biến bản này dưới cái tên “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên”, ca sĩ Jeannie Mai là người đầu tiên trình bày bản nhạc này nhưng sức phổ biến chỉ hạn chế. Khi Khánh Ly hát, bản nhạc mới gây sóng gió tại hải ngoại. Thời gian đó, tôi còn kẹt ở Việt Nam nhưng đã được nghe qua đài VOA. Dân Việt còn ở trong nước đã khóc thầm mỗi khi nghe bản này. Nguyễn Đình Toàn kể là không biết tại sao công an lại nghi ngờ anh là tác giả và gọi anh lên làm việc khi anh còn ở trong tù. Anh chối, dĩ nhiên. Lý do anh đưa ra là một nhà văn nhà thơ như anh đâu có thiếu chữ mà phải đặt cái tên ngớ ngẩn “niềm nhớ không tên”. Anh thoát tội. Sau khi qua Mỹ vào năm 1998, anh mới nhờ Khánh Ly hát lại bản đúng cả nhạc lẫn lời và dùng cái tên nguyên thủy “Nước Mắt Cho Sài Gòn”!

5
Nhà văn / nhà thơ / nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn.

Có nhiều nước mắt cho Sài Gòn tan nát trong đó có nhà văn Dương Thu Hương cùng đoàn quân chiến thắng có mặt tại Sài Gòn vào những ngày đầu đổi chủ. Trong bài viết ngắn: “Trong Đời Tôi Có Hai Lần Khóc”, bà viết: “Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cả mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bày trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ. Đừng quên rằng, ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói”.

Nhà văn, nhà báo Nguyễn Tường Thụy,  một bộ đội tới Sài Gòn ngay những ngày đầu “giải phóng”, cũng đã trải tấm lòng thật thà của một người Việt Nam trong bài thơ “Sài Gòn Thương Mến” mà tôi trích ít câu sau:

Sài Gòn xưa Hòn Ngọc Viễn Đông.
Bây giờ Viễn Đông thành phố nào là hòn Ngọc?
Tôi nghĩ thế thấy thương yêu da diết.
Một Sài Gòn rực rỡ nét hào hoa.

Tôi đến Sài Gòn vừa dứt can qua.
Thấy ngơ ngác trước đô thành lộng lẫy.
Tôi thương Sài Gòn bằng những gì tôi thấy.
Cố đô một thời tráng lệ kiêu sa.
…….
Sài Gòn bây giờ thành phố đã đổi tên.
Tôi vẫn muốn gọi bằng cái tên thương mến cũ.
Và ao ước Sài Gòn hoa lệ.
Sẽ đến lúc lại là "Hòn Ngọc Viễn Đông".

Những người làm nên hồn vía Sài Gòn là những văn nghệ sĩ. Có những người đã ra đi nhưng cũng nhiều người còn kẹt lại. Một trong những người hồn nhiên nhất không ai khác hơn nhà thơ Bùi Giáng. Không biết ông điên thật hay điên giả nhưng cái tửng tửng của ông đã thành giai thoại mà người dân Sài Gòn ít ai không biết. Có hai giai thoại mà dân Sài Gòn rất khoái. Giai thoại thứ nhất: khi đi qua một khu chợ vỉa hè bán phụ tùng xe đạp ở cuối đường Trương Minh Ký, ông nhào vào lấy một cái ghi-đông và bỏ đi. Bà bán hàng chạy theo la thất thanh nhờ thiên hại bắt giùm “thằng ăn cắp”. Ông nhẩn nha quay lại, trả cái ghi-đông và từ tốn phân bua: “Bà con coi! Mất cả nước không ai la, mất có cái ghi-đông xe mà la um sùm!”. Giai thoại thứ hai: đang đi trên đường, Bùi Giáng thấy một phụ nữ Nga, vội quay lại bóp vú bà này. Bà la choi chói, ông lầm bầm với người chung quanh: “Tao chỉ muốn coi xem cặp vú của nó có thể nuôi  hết con dân Việt Nam không?”. Nhà văn Ngô Thế Vinh, trong bài “Sài Gòn, Bi Kịch Những Ngày Sau Tháng Tư 1975”, kể lại: “Trung niên thi sĩ lúc nào cũng gầy và già hơn tuổi, râu tóc sơ sác như từ bao giờ. Giữa một Sài Gòn thảng thốt, không biết anh đã lượm ở đâu trên đường mà có được bộ quân phục ngụy với quân hàm Đại tá, Bùi Giáng đem vận ngay vào người, chân thấp chân cao đi nghêu ngao như diễn binh trên hè phố. Có lẽ đây là hình ảnh tuyệt đẹp cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam, với một tân binh tình nguyện gia nhập đạo quân đã hoàn toàn rã ngũ. Rồi Bùi Giáng cũng tới được khu nhà thờ Ba Chuông, nơi có căn nhà Dương Nghiễm Mậu. Bùi Giáng hồn nhiên đi sâu vào con hẻm chật chội ấy đã thấp thoáng màu cờ đỏ. Anh vẫn tỉnh táo nhớ đúng nhà, tới đập cửa rầm rầm đòi vào thăm cho được cố tri. Trầm tĩnh và bản lãnh như Nghiễm, mà trước tình huống ấy cũng vẫn như gái ngồi phải cọc; được cái lúc ấy chòm xóm còn là thân quen, mạng lưới công an chưa đủ dầy đặc để gây nỗi phiền hà. Ra khỏi nhà Dương Nghiễm Mậu, không biết Bùi Giáng còn đi gõ cửa tới thăm những ai khác, hay anh lại ra nơi đầu cầu Trương Minh Giảng như một người tỉnh táo đứng làm cảnh sát công lộ chỉ đường “trên dòng luân lưu hỗn mang của lịch sử” và để rồi sau đó nếu anh không bị đám “cách mạng 30” hay bọn công an đánh tả tơi sưng mặt mũi thì rồi cuối cùng chắc anh cũng lại tìm về với “mẫu hậu” Kim Cương, ngồi trước cửa phóng bút làm thơ tặng nàng”.

1
Bùi Giáng: Sài Gòn Chợ Lớn đã đời du côn!

2
Bùi Giáng trên đường phố Sài Gòn.

Cũng kẹt lại là nhà văn Mai Thảo. Ông này lăng ba vi bộ với khinh công tuyệt diệu. Ông là nhà văn duy nhất thoát khỏi các vụ ruồng bắt trong suốt hai năm trốn chui trốn lủi trên lầu nhà Nhã Ca ở đường Tự Do. Một đoạn viết của Nhã Ca: “Đêm. Đập cửa khẩn cấp.. Bật dậy. Chụm đầu. Nghe ngóng. Thì thầm. “Khoan. Đừng xuống vội. Bình tĩnh”. Anh Mai Thảo nói. Lầu giữa, phía sau phòng khách, có khoảng sân trống. Sớm Mai nhanh nhẹn mở cửa sổ cho bác leo lên mái nhà. “Gài kỹ chốt cửa lại. Cứ thong thả”. Cửa sắt cuốn dưới mặt tiền căn phố bị nện kêu rầm rầm. “ Bật đèn lên được rồi, con”. Tôi bảo Sớm Mai. Ngọn điện bật sáng. “Mở cửa. Kiểm tra hộ khẩu”. Tiếng quát giật giọng từ dưới đường vang lên. Đã tính toán sẵn, trừ bà ngoại và vài đứa lớn, tất cả đều trở về chỗ nằm, đâu đó vẫn phải như đang ngủ. “Hai chị em xuống mở cửa cho chúng. Không việc gì phải sợ”. Tôi bảo đứa cháu lớn trong nhà, rồi về phòng. Có nên thay áo không? Tôi đang khoác cái áo ngủ nhầu nát. Thây kệ. Chờ. Vậy là điều lo lắng, hồi hộp hai ngày nay đã tới. Đêm hôm kia, anh Mai Thảo về khuya. Cửa sau, mấy đứa cháu trong nhà quen việc mở chốt sẵn. Trong hẻm lại có người, cũng chỉ dân giang hồ đi tìm xó tối làm ăn thôi, nhưng cũng không thể kêu cửa ầm ĩ. Đành vòng ra phía Tự Do, thấy cửa trước còn đèn, đang tính vô thì đụng ngay tổ trưởng dân phố. “Thấy nó dắt đứa con đi tới, tôi làm bộ dạo phố, chỉ dùng lại châm thuốc. Ai dè nó lại nhận ra mình. Còn lên tiếng chào hỏi thăm anh khỏe không nữa chứ. Thế mới bố khỉ. Phải ờ ờ ậm ừ làm bộ băng qua đường, mới thoát. Nhã liệu coi chừng nghe. Có thể nguy đấy”. Khi vô được nhà rồi, anh Mai Thảo kể vậy. Tổ trưởng dân phố là Nguyễn Thanh Bình, một nhạc sĩ cũ, hình như là tác giả bài ca “Những Nẻo Đường Việt Nam” thường được hát trên Đài Phát Thanh Sài Gòn thời mới di cư 1954. Hai cha con ông ta sống tá túc vất vưởng ở một căn gác xép trên đường tự Do”. Sáng hôm sau nhạc sĩ Thanh Bình cho Nhã Ca biết đêm qua đã thấy Mai Thảo. Nhã Ca đánh lạc hướng bằng cách nói có thể đó là Anh Ngọc hay Hoài Bắc. Ba người thường đi chơi chung với nhau. Nhạc sĩ Nguyễn Thanh Bình nói nhỏ với Nhã Ca : “Chị Nhã Ca. Tôi chỉ kể với chị cho vui thôi. Bộ chị tưởng tôi làm tổ trưởng rồi thành giống chó à?”.


Nhà văn thuyền nhân Mai Thảo đến bến bờ tự do Pulau Besar, Mã Lai 12/1977

3
Nhà văn Mai Thảo

Mai Thảo vượt biển vào năm 1997. Cuộc vượt biển rất gian nan.Trên tàu có 81 thuyền nhân trong đó có Nhật Tiến, thầy Từ Mẫn, vợ chồng Dương Phục – Vũ Thanh Thủy. Tàu gặp hải tặc Thái Lan, bị đưa vào đảo Kra chịu thảm cảnh mà sau đó Nhật Tiến ghi lại khiến lương tâm thế giới rung động. Phong trào cứu người vượt biển ra đời sau thảm kịch này.

(Còn tiếp)

 Xem tiếp phần 4 

KÝ ỨC SÀI GÒN (4) - Song Thao


KÝ ỨC SÀI GÒN (4) - Song Thao

May mắn hơn là những nhân viên của Đài Mẹ Việt Nam. Họ được di tản có bài bản. Nhà văn Ngô Thế Vinh kể lại : “Tuần lễ trước 30 tháng 4, 1975, nhân viên Đài Mẹ Việt Nam và những cây viết cộng tác đã được Mỹ lên kế hoạch di tản khỏi Việt Nam – để tránh bị trả thù. Trước ngày lên tàu ra đảo Phú Quốc, nhà văn Võ Phiến tới thăm tòa soạn Bách Khoa, nơi vùng “xôi đậu” có Võ Phiến ngồi chung với Vũ Hạnh; cũng là nơi mà Võ Phiến đã gắn bó suốt 18 năm cùng với tuổi thọ của tờ báo. Anh Lê Ngộ Châu chủ nhiệm Bách Khoa kể lại: Võ Phiến thì phải đi, nhưng linh cảm không có ngày về, vẻ mặt buồn thảm, anh chỉ ngồi khóc lặng lẽ không nói nổi lời giã từ và rồi đứng dậy bước ra khỏi toà soạn. Trước một ngày mất Sài Gòn, thì hầu như toàn bộ nhân viên Đài Mẹ Việt Nam trong đó có gia đình Võ Phiến, Lê Tất Điều, Viên Linh, Tuý Hồng, Thanh Nam từ Phú Quốc đã được đưa lên con tàu lớn Challenger đậu sẵn ngoài khơi. Khi bờ biển Phú Quốc xa mờ trong tầm mắt, lần này thì Lê Tất Điều thấy Võ Phiến khóc”.

Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Đỗ cùng hội tụ với nhóm Mẹ Việt Nam trên đảo Guam. Tôi chợt nhớ tới câu ca dao : “Gió đưa cây cải về trời / Rau răm ở lại chịu nhiểu đắng cay”. Chẳng biết có phải là một thứ “sấm” không? Những” rau răm” bị bầm nát chết trong tù có Hiếu Chân, Nguyễn Hoạt, Hoàng Vĩnh Lộc, Nguyễn Mạnh Côn, Phạm văn Sơn, Trần văn Tuyên, Trần Việt Sơn, Vũ Ngọc Các, Nguyễn Tuấn Phát, Dương Hùng Cường. Chết sau khi ra tù có Hồ Hữu Tường, Vũ Hoàng Chương. Sống xa rời cây viết có Dương Nghiễm Mậu làm sơn mài, Lê Xuyên bán thuốc lá lẻ trên lề đường, Trần Lê Nguyễn bán báo, Nguyễn Mộng Giác làm mì sợi, Trần Hoài Thư bán cà-rem dạo.


Lê Xuyên bên tủ thuốc lá.

Giới cầm bút xấc bấc xang bang, dân Sài Gòn cũng cùng chung một quốc nạn. Từ ngày tháng tư u tối đó, dân Sài Gòn tan tác như đàn gà con mất mẹ. Mỗi người đều chạy vạy để có được một chỗ trên máy bay rời Sài Gòn. Chuyện không dễ gì. Vào những giây phút cuối, trực thăng bay hốt những đoàn người cuối. Tác giả Nguyễn Viết Đĩnh ghi lại giây phút tan hoang của Sài Gòn thoi thóp: “Trên bầu trời Sài Gòn, từng đàn trực thăng võ trang của Thủy Quân Lục chiến Mỹ lượn vòng không ngớt. Tiếng cánh quạt xé gió vang lên suốt ngày đêm, như một thứ âm thanh báo tử. Chúng bay thấp, bay cao, đáp xuống các cao ốc, các địa điểm đã được chỉ định từ trước. Người ta nói về những cuộc bốc người từ nóc tòa đại sứ, từ các cao ốc lớn trong thành phố. Những chiếc thang dây buông xuống từ không trung, người bám vào như bám vào sợi dây cuối cùng của sự sống. Mỗi lần nghe tiếng trực thăng, tim tôi lại thắt lại. Không phải vì hy vọng, mà vì một cảm giác bị bỏ lại. Chúng không đến cho tất cả. Chúng chỉ đến cho một số người đã được chọn, đã có tên, đã có chỗ. Phần còn lại của thành phố chỉ đứng nhìn, ngước mắt lên trời, bất lực”.


Cảnh hỗn loạn trước Tòa Đại sứ Mỹ ngày 29/4/1975.


Trực thăng trên nóc tòa Đại Sứ Mỹ tại đường Thống Nhất.


Chạy lên trực thăng di tản.

Những người chậm chân sau đó đã xô nhau vượt biên, vượt biển tìm tự do bất chấp những nguy hiểm tới mạng sống kè kè trên mỗi bước đường trốn xa thành phố thân yêu. Theo Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR), tổng số người vượt biển từ 1975 tới 1995 khoảng từ 800 ngàn tới 900 ngàn. Trong số đó tới được Mã Lai (255 ngàn), Hồng Kông (143 ngàn), Indonesia (122 ngàn), Thái Lan (80 ngàn), Philippines (40 ngàn) và Singapore (30 ngàn). Tổng cộng 670 ngàn. Số tử vong ước tính khoảng từ 200 ngàn tới 400 ngàn vì chết đuối, bão tố, thiếu nước , đói, bệnh hoặc do cướp biển. Khoảng 10 ngàn phụ nữ và trẻ em gái bị bạo hành tình dục hoặc bị bắt cóc.


Tầu vượt biên.

Vượt biên là tự phát. Dân lén lút dùng những tàu đánh cá ra biển. Có thể họ đi chui nhưng cũng có những vụ mua bãi có công an lấy vàng tiếp tay cho rời bến an toàn. Nhà nước thấy làm ăn được nên nâng chuyện cướp vàng của những người muốn vượt biên thành…chính sách. Nhân vụ muốn đẩy người Hoa ra khỏi nước, nhà nước đứng ra tổ chức những chuyến đi mà dân ta hồi đó gọi là đi “bán chính thức”. Nhà nước gọi là “Phương Án II”. Tại sao có con số 2? Có ba phương án giải quyết việc ra đi của người Hoa: theo con đường Liên Hiệp Quốc HCR (gọi tắt là Phương Án I); cho ra nước ngoài làm ăn (Phương Án II) và cho về các địa phương sản xuất theo khả năng (Phương Án III).

Trong cuốn Bên Thắng Cuộc, tác giả Huy Đức đã ghi lại : “Phương án II là một kế hoạch được “phổ biến miệng để giữ bí mật”, theo đó: Người di tản được đóng vàng để công an mua thuyền hoặc đóng thuyền cho đi mà không sợ bị bắt hay gây khó khăn. Việc thực hiện Phương án II chỉ do ba người là bí thư, chủ tịch và giám đốc công an tỉnh quyết định. Công an được giao làm nhiệm vụ đứng ra thu vàng và tổ chức cho người di tản”. Việc triển khai Phương Án này được làm trong bí mật. Ngay Phó Bí Thư Thường Trực Sài Gòn Trần Quốc Hương cũng không được biết. Trung Ương lập ra Ban 69 để theo dõi hoạt động thi hành Phương Án II. Trong cuốn “Bên Thắng Cuộc” ghi lại kết quả cuộc kiểm tra như sau: “Kết quả kiểm tra của Ban 69 cho thấy có một sự khác biệt rất lớn giữa báo cáo của Bộ Nội vụ và thực tế thực hiện Phương án II. Báo cáo của Bộ Nội vụ nói rằng: “Từ tháng 8-78 đến 6-79, mười lăm tỉnh, thành đã cho người Hoa đi nước ngoài bằng tàu, thuyền gồm 156 chuyến với số người là 59.329 người, đã thu 5.612 kg vàng, năm triệu đồng Việt Nam, năm mươi bảy ngàn đô la Mỹ, 235 ô tô, 1.749 nhà và gian nhà”. Nhưng, số liệu sau khi Ban 69 kiểm tra cho thấy: “Số tàu đã cho đi: 533; Số người đã đi: 134.322; Thu vàng: 16.181kg; Ngoại tệ: 164.505 đô la; Tiền ngân hàng VN: 34.548.138 đồng; Một số tài sản khác: 538 ô tô, xe du lịch; 4.145 nhà và gian nhà”. Tuy đối tượng cần đưa đi ở các tỉnh trước hết là Thành phố HCM chưa giải quyết hết yêu cầu, việc phối hợp đưa 70 ngàn người Hoa ở Thành Phố HCM trong tổng số gần 140 ngàn người Hoa đã đi là một thành tích lớn. Việc thu vàng và tài sản của Phương Án 2 cũng là một thành tích rất lớn”. Trước con số lợi lộc lớn lao như vậy, các cán bộ thi hành  không bỏ lỡ cơ hội tham ô bỏ túi. Người Việt lợi dụng lối vượt thoát khá an toàn này nên đóng vàng cho công an để ngụy trang thành người Hoa trà trộn vào đoàn người Hoa ra đi. Tại Sài Gòn, nhiều tổ chức móc nối người Việt. Có người đi được, có người tiền mất tật mang. Tôi là một trong số nhiều người đã bị lừa. Số vàng tôi mất cho gia đình 4 người trên chục lượng. Sau khi thỏa thuận với người môi giới, gia đình tôi được họ cung cấp cho giấy Chứng Minh Nhân Dân và Thẻ Cử Tri với tên Hoa. Mỗi người phải học thuộc tên mình. Chuyện khá khó khăn nhất là với hai đứa con còn nhỏ của tôi. Cả nhà hy vọng ngồi chờ ngày ra đi. Ngày đó chẳng bao giờ tới.

Có những người không màng chuyện ra đi mà nguyện sống mãi mãi với thành phố thân yêu. Họ tự hủy thân xác trong thành phố để được sống với Sài Gòn dấu yêu. Có rất nhiều người đã chọn bước đường cùng như vậy. Nổi bật nhất là cái chết của Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn văn Long và Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh.

Trong những ngày Sài Gòn vừa thất thủ, dân Sài Gòn đã bàng hoàng trước tấm hình TrungTá Nguyễn văn Long nằm chết trong bộ quân phục. Tấm hình do một ký giả Pháp chụp và phổ biến trên báo Paris Match. Nhà văn Giao Chỉ ở San Jose viết trong bài “Câu Chuyện Về Cái Chết Của Trung Tá Nguyên Văn Long. Cái Chết Của Cha Tôi”: “Bức hình chụp được phổ biến cho thấy ông nằm nghiêm chỉnh dưới bức tượng xung phong của thủy quân lục chiến trước tòa nhà quốc hội Việt Nam Cộng Hòa. Có nhiều người chứng kiến nhưng không ai là nhân chứng kể lại giây phút cuối cùng. Dường như có người đã sắp xếp lại di hài vị anh hùng mang cấp bậc trung tá cảnh sát. Hai tay để ngay ngắn trên bụng. Nón trước ngực. Tấm hình chụp thật rõ ràng. Ai đã sắp xếp lại? Đồng bào miền Nam hay anh phóng viên chụp hình cho tờ báo Pháp. Bức hình của người sĩ quan bại trận nằm yên nghỉ nhưng hết sức lẫm liệt”. Trung Tá Long sanh tại Phú Hội, Huế, ngày 1/6/1919, tuẫn tiết tại Sài Gòn năm 1975, lúc đó 56 tuổi. Ông có 13 người con, 6 trai 7 gái. Tên các con trai thể hiện giấc mơ của cha : Phụng, Hoàng, Minh, Tiến, Quang, Hội. Tất cả đều gia nhập quân đội, trừ cậu út mới 13 tuổi, chưa đủ tuổi đi lính. Tên các con gái như hình ảnh dịu hiền của mẹ : Đào, Tâm, Thiện, Hòa, Hảo, Hiền, Huê. Ông làm việc tại Đà Nẵng, di tản vào Sài Gòn. Bà Tâm, con gái thứ ba của ông kể lại : “Lúc đó vào cuối tháng 3/75 ở Đà Nẵng. Ba vẫn làm việc trong trại, không về nhà. Hai cậu em không quân, một ở Đà Nẵng, một ở Biên Hòa. Một cậu đưa cả nhà vào sân bay Đà Nẵng chờ di tản. Nhưng rồi cũng không đi được. Vào ngày cuối người cha về nhà không thấy gia đình. Ông nghĩ rằng vợ con có thể đã đi thoát trong phi trường. Ông xuống bãi và ra đi bằng tàu. Vào đến Saigon đã có cô con gái lớn đón cha về ở tạm. Lúc đó mới biết vợ con còn kẹt ở Đà Nẵng. Cha tôi lại vào trình diện Tổng Nha Cảnh Sát để làm việc”. Trưa 30/4/75 khi radio phát thanh lời Tổng Thống đầu hàng thì một phát súng đơn độc nổ bên thái dương, Trung Tá Long ngã xuống. Ông buông cây súng nhỏ theo lệnh Tổng Thống, cây súng tùy thân ông vẫn mang theo từ Huế, Đà Nẵng vào đến Sài Gòn. Thân xác ông được đưa vào bệnh viện Grall. Trong bộ quân phục của ông có mảnh giấy ghi địa chỉ của gia đình nên vào cuối tháng 5/1975 có người từ nhà thương Grall liên lạc về Đà Nẵng. Hai vợ chồng bà Tâm từ Đà Nẵng vào hợp cùng chị và em ở Sài Gòn tới nhà xác bệnh viện. Khi nhân viên nhà xác mở ngăn lạnh chứa xác, xác ông vẫn còn nguyên vẹn trong quân phục có đeo cấp hiệu và mũ Cảnh Sát. Nhân viên nhà xác cho biết được lệnh bảo quản vì đây là thi hài của một anh hùng, chờ gia đình tổ chức mai táng chu đáo. Gia đình đã chôn cất Trung Tá Long tại nghĩa trang Bà Quẹo.

 
Người dân Sài Gòn bên thi hài Trung Tá Nguyễn văn Long

Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh không tự tử một mình. Ông đã giúp cả gia đình gồm vợ và bảy người con thoát khỏi kiếp sống dưới chế độ Cộng sản trước khi quay súng bắn vào đầu tự tử. Tác giả Nguyễn Hà Tường Anh, khi đó mới 11 tuổi, là hàng xóm của gia đình Trung Tá Vĩnh, còn nhớ như in quang cảnh ngày oan nghiệt đó trong hồi ký “Chín Nén Nhang Cho Gia Đình Cố Trung tá Đặng Sĩ Vĩnh”: “Ngày 30/4/1975, lời tuyên bố đầu hàng đã truyền đi. Lá cờ tai họa đã bay trên Dinh Độc Lập. Bố tôi từ Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị về nhà. Mắt ông đỏ tia máu. Trước nhà tôi, những người lính cởi trần ngồi lề đường khóc. Họ chửi rủa rằng họ bị phản bội, bị bỏ rơi. Họ nói đến chuyện tự tử để không thẹn với hồn thiêng sông núi. Có cái gì đó khủng khiếp khi những người đàn ông khóc. Hàng xóm xúm lại an ủi họ. Trời chang chang nắng đổ. Súng ống quân phục đầy đường từ Ngã Tư Bẩy Hiền vào Lê Văn Duyệt. Tiếng súng do bọn thanh thiếu niên hoang loạn bắn từ vũ khí vương vãi trên hè phố nổ rền suốt mấy giờ liền. Đến khoảng 2 giờ chiều chỉ còn lác đác tiếng súng ở xa. Nỗi hoang mang tiếp tục gia tăng khi người ta bắt đầu nhìn thấy những người lính miền Bắc đeo ba-lô, đi dép râu, mặt mũi lơ láo, lạ lẫm bắt đầu đi vào con đường hẻm. Bất thình lình, trong cái oi bức, ngột ngạt của không gian, trong cái căng thẳng kinh hoàng của đầu óc, có những tiếng súng nhỏ vang lên trong một căn nhà. Những tiếng súng ấy nhỏ và không vội vã như người ta bắn qua lại khi giao tranh. Những tiếng súng ấy bình tĩnh, cách nhau đều đặn. Chúng vang lên một cách chắc chắn, chắc chắn như quyết định của người nổ súng. Đó chính là tiếng súng mà Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh đã nổ để kết liễu mạng sống của cả gia đình gồm vợ với bảy người con và chính bản thân ông”.

Ngôi nhà màu xanh lá cây, cổng gạch trắng, không có chỗ đậu xe hơi, mang số 98/39 Phạm Hồng Thái, ấp Hòa Bình, quận Tân Bình, Gia Định. Con hẻm này thuộc Khu Ông Tạ, được dân chúng gọi nôm na là Hẻm Con Mắt. Xe ông thường mang để nhờ trong sân nhà kịch sĩ Năm Châu ở xế cửa nhà ông. Bà Vĩnh tên Trần Ánh Nguyệt, là chị vợ của nhà thơ Hà Thượng Nhân. Nhà thơ cho biết ông anh cột chèo này rất hiền lành, nhân hậu, chẳng bao giờ cau có, cãi cọ với ai. Hai ông bà có bảy người con. Anh con cả là Đặng Trần Vinh, sanh năm 1948. Hai cô út là một cặp sinh đôi khi đó khoảng 15 tuổi. Ông tốt nghiệp Khóa 3 trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức vào năm 1953, tùng sự tại Phòng Nhì Bộ Tổng Tham Mưu. Từ cuối thập niên 1960, ông được biệt phái qua Tổng Nha Cảnh sát.

Tác giả Nguyễn Hà Tường Anh nhớ lại: “Trong ký ức tuổi thơ của tôi, ông Vĩnh lúc ấy 56 tuổi mà còn phong độ. Gặp bố tôi, ông trao đổi một vài câu chuyện với giọng thật hiền hòa, thân thiện. Anh Vinh, con ông lúc ấy 27 tuổi. Hai cô em gái sinh đôi của anh thường đùa nghịch cười rúc rích. Họ đồng tuổi với chị Trang của tôi. Da trắng, tóc dài, đen nhánh, buộc bằng nơ đỏ và xanh dương. Âm thanh và hình ảnh của gia đình Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh, nếu chỉ có thể trong tôi, đã không trở thành ký ức kinh hoàng. Ký ức đó chỉ một thời gian ngắn sau, đã bằng những tiếng súng chuyển thành kinh hoàng. Bố tôi nói buổi trưa ngày 30/4/1975, khi nghe tiếng súng:“Chắc bác Vĩnh tự tử rồi!”. Mắt ông vẫn đỏ tia máu. Tôi dư biết ông có khẩu súng lục và một trái lựu đạn trong ngăn kéo trên lầu. Bố tôi không nói gì nữa. Ông ngồi đó mà không ăn trưa, hai mắt lừ lừ. Tôi không tin lời bố tôi nói. Một đứa 11 tuổi chưa đủ khả năng để lượng định những áp lực tinh thần đang đè nặng trên vai kẻ sĩ trong lúc đất nước rơi vào tay giặc. Thật sự, dù có tin, tôi cũng không nghĩ đến cái chết của người khác vào lúc đó. Nhưng tôi sợ cái chết của bác Vĩnh và cả nhà sẽ khiến bố tôi quyết định cùng gia đình chọn cái chết hơn là sống với chế độ Cộng Sản. Mẹ tôi lo ngại, lén lấy súng lục và lựu đạn của bố gói trong bao vải ném xuống kinh Nhiêu Lộc. Mẹ tôi chỉ nói ngắn gọn với bố: “Anh muốn làm gì cũng phải bàn với cả nhà, nhất là với mẹ, người sinh ra anh trên đời này”. Bà tôi thấy vậy cũng sợ, bắt chúng tôi bốn đứa âm thầm thay phiên nhau canh chừng bố. May thay sau đó bố tôi đã thoát được những ám ảnh từ gia đình bác Vĩnh”

Nhà tác giả chỉ cách nhà Trung Tá Vĩnh chừng 10 căn. Hàng xóm nghe tiếng súng nhưng không ai dám tới. Ngày hôm sau, mọi người mới phá cửa vào nhà. Họ chết lặng trước những xác chết nằm ngay trước mắt. Ngoài phòng khách có treo một bộ quân phục đại lễ. Quạt máy trên trần vẫn chạy, những tấm nệm mang từ trên lầu xuống được xếp ngay ngắn. Trên những tấm nệm là xác của bảy người con, nằm theo thứ tự lớn nhỏ. Tất cả quay đầu ra phía cửa. Anh Vinh lớn nhất nằm ngoài cùng phía bên phải, hai cô út sanh đôi phía bên trái. Bà Vĩnh nằm ngang dưới chân các con. Trung Tá Vĩnh nằm bên cạnh. Tất cả đều có một vết đạn duy nhất trên thái dương đã khô máu. Trên bàn, thức ăn còn đầy trong đĩa. Các ly nước còn một nửa có lớp cặn dày màu trắng. Có lẽ cả nhà đã uống thuôc ngủ hoặc một thứ chi đó trước khi chết. Người ta thấy một bức thư gửi cho ông Đặng Sĩ Toản, anh trai của Trung Tá Vĩnh. Một bức thư khác xin lỗi bà con lối xóm vì hành động của ông có thể làm phiền lối xóm. Ông cũng cho biết có để một số tiền trong ngăn kéo để lo hậu sự. Bà Hà Thượng Nhân và gia đình đã làm một tang lễ vội để đưa 9 chiếc quan tài ra chôn ở nghĩa trang Chí Hòa. Tác giả Nguyễn Hà Tường Anh ngậm ngùi viết những dòng cuối của một hồi ức đau thương: “Tôi viết như viết tâm sự của mình khi kể lại chuyện thương tâm của gia đình Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh. Hình ảnh anh Vinh và hai chị sinh đôi cùng bốn anh chị em còn lại mặt trắng bệch, mắt nhắm nghiền, máu chảy thành vũng từ thái dương, tóc bay lơ thơ dưới quạt trần, từ nay xin là những đau thương của quá khứ. Chính từ những đau thương ấy, xin cho hiện tại được chăm chút trân trọng hơn. Xin cho tương lai được coi là quan trọng hơn hết khi kính mến những hy sinh, khổ sầu của người đã chết vì vận nước. Xin thắp một nén nhang cho mỗi người trong gia đình trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh. Xin gửi lời người đã khuất cầu nguyện cho đất nước, và cho chính tôi được nhẹ nhàng”.


Thi hài Trung Tá Đặng Sĩ Vĩnh

Hồi ức về Sài Gòn, của tôi và của những người Sài Gòn, miên man không bao giờ dứt. Những người Sài Gòn sẽ còn ghi nhớ về thành phố thân thương này trong suốt cuộc đời còn lại của họ. Riêng tôi, mỗi lần nghĩ về quê nhà, nhất là dịp 30/4, tôi nhớ tới Sài Gòn nhiều hơn nhớ tới sanh quán Hà Nội. Sài Gòn đã cho tôi những ngày tươi đẹp nhất của tuổi thanh niên, tuổi đẹp nhất của đời người. Đã 51 năm Sài Gòn mất tên. Đã 41năm tôi xa Sài Gòn, hay Sài Gòn xa tôi?

05/2026

 

KÝ ỨC SÀI GÒN (1) - Song Thao

KÝ ỨC SÀI GÒN (1) - Song Thao

Tôi rời nơi chôn rau cắt rốn Hà Nội khi chỉ còn đúng 4 ngày nữa là bước qua tuổi 16, tuổi dậy thì. Nơi tới là Sài Gòn. Tôi bay bằng máy bay Cosara được Không Quân Pháp trưng dụng để chở nhân viên và gia đình vào Sài Gòn khi hiệp định Genève chia cắt đất nước vừa được ký kết một tuần trước. Khi đó chưa có phong trào di cư, cậu bé ( hay chàng trai) sắp 16 tuổi lòng phơi phới lần đầu được đi máy bay tới một nơi xa tít, tuốt tận miền Nam đất nước. Sài Gòn, nơi tôi bắt đầu tuổi thanh niên. Cái tuổi đẹp nhất đời người của tôi tại Sài Gòn dài tới 41 năm, ăn đứt 16 năm tại Hà Nội, chốn thơ dại của tôi. Ký ức của tôi về thành phố thân thương này rất đậm đà. Đậm đà không kém người dân chính gốc Sài Gòn. Từ ngày thành phố mất tên, ký ức về Sài Gòn là ký ức chung của những người dân Sài Gòn, dân chính gốc cũng như dân ngụ cư.

Khi tôi tới Sài Gòn, tên đường phố chưa thay đổi. Vẫn là những tên Pháp. Ông Catinat hay ông Bonard là các ông cha căng chú kiết nào, không cần biết nhưng hai con đường mang tên hai ông thì tuổi trẻ Sài Gòn khi đó đều biết. Hồi đó, vào ngày Chủ Nhật hay ngày lễ, thanh niên thanh nữ dập dìu bát phố trên hai con đường trung tâm này. Hành động này được gọi là “Catinater” hay “Bonarder”. Dân bát phố chế thêm chữ “déxiquachté”, nghĩa là “hết xí quách”! Làm chi mà không hết xí quách khi cứ đi lên đi xuống giờ này qua giờ khác. Những anh chị có đôi có cặp đi rước đèn loanh quanh cho thiên hạ thèm chơi. Các anh cu ki dắt tay nhau đi nghễ gái. Ngày đó chuyện này là thường tình. Ngày nay mà hai anh đực rựa dắt tay trên đường sẽ bị nhìn bằng con mắt nghi ngờ. Những tà áo dài tha thướt, những mini-jupe hững hờ, dắt tay nhau tung tăng cho mấy anh mắt la mày liếc lếch mắt. Họa sĩ Hà Cẩm Tâm cảm tác: “Buổi chiều. Từ chợ mới Sài Gòn đầu đường Lê Lợi hay từ nhà thờ Đức Bà đầu đường Tự Do trai thanh gái lịch kéo nhau từng cặp từng nhóm từng đoàn về bờ sông Sài Gòn. Gió hây hây từ sông Sài Gòn lùa vào mát rượi cả thành phố hoàng hôn. Những bước chân líu lo, những tâm hồn rộn rã, những hứng thú hàn huyên, những tiếng cười giòn tan...  là những ấn dấu của một thời nhàn du thư thả không thể nào xóa mờ trong tâm trí. Những nhà sách đồ sộ. Những góc phố hằng hà sách bán xôn. Những nhà hàng sang trọng. Những bữa cơm vỉa hè. Những dancing lừng lẫy. Vài quán nhỏ nhâm nhi. Những ca sĩ áo dài má phấn môi son. Một hát dạo xàng xê vệ đường (…) Lưu lạc giang hồ trăm nơi ngàn chốn, tình cảnh đủ điều văn minh vật chất, siêu đẳng như lai thoát vùng hệ lụy, lạnh thấu tủy xương, nóng ran sa mạc, buồn hơn mẹ chết, sướng tợ tiên ông, tự do như gió, stress thường xuyên, chết lên sống xuống, muốn gì được nấy... mà chẳng thấy ở đâu sống “đã” bằng ở Sài Gòn ngày ấy...”.

Ký ức của Phạm Công Luận, nhà văn chuyên viết về Sài Gòn ngày cũ, người lục tung những mảnh quá khứ của Sài Gòn: “Nhớ hoài những tháng năm đầu thập niên 1970, ở đâu chiến tranh xảy ra không biết nhưng trên đường này, dù ngoài trời đang nóng hay mát, người ta diện những bộ đồ đẹp để đi mua sắm, xem xi nê, vào tiệm chụp hình làm vài pô ảnh trước tấm phông vải vẽ cảnh biệt thự, lầu tạ. Dưới hàng cổ thụ dọc hai bên đường, hàng ngàn người di chuyển từ phía trụ sở Hạ viện lũ lượt đi về phía chợ Bến Thành. Áo dài bông, áo dài tay raglan, mini jupe của các bà các cô. Áo sơ mi bỏ vào quần hay để thong thả ra ngoài, vài ông thắt cravate… Mùi dầu thơm, mùi brillantine thoang thoảng trong nắng trong gió. Đoàn diễu hành mùa hè (lúc nào Sài Gòn cũng như đang trong mùa hè) đầy háo hức, từ những chàng trai trẻ non tơ bồn chồn vào nhà sách Lê Lợi săn tìm sách mới, tìm sách từ điển hay đi lấy báo Thế Giới Tự Do miễn phí ở thư viện Abraham Lincoln, hay như anh chàng thủy thủ tàu biển nước ngoài từ cảng mới đi lên, trố mắt nhìn mọi phía, xoay tứ phía ống kính máy ảnh”. Thư viện Abraham Lincoln của Mỹ ngày đó nằm ngay ngã tư Nguyễn Huệ – Lê Lợi là nơi máy lạnh chạy vù vù mát rượi. Đi bát phố giữa cái nóng mùa hè, muốn nghỉ ngơi không chi bằng vào thư viện này đọc sách. Những cuốn sách được bao bọc vừa đẹp vừa sang. Lại phải thú tội: ngày đó tôi có anh bạn làm tại đây thỉnh thoảng giúi cho tôi ít giấy nhựa trong suốt bọc sách rất Mỹ này.

Tôi có hai lần bát phố đáng nhớ. Khoảng cuối thập niên 1950, các trường trung học đệ nhị cấp có chương trình Quân Sự Học Đường. Đồng phục quần trắng áo trắng với mũ bê-rê màu xanh sậm. Cuối tuần, chúng tôi diện đồng phục bát phố, mặt cưng cưng hãnh diện, cái hãnh diện rất trẻ con, buồn cười. Giờ nghĩ lại thấy sao hồi đó mình sến đến vậy.


“Lính” Quân Sự Học Đường bát phố.

Lần thứ hai là tôi đang cu ki trên đường Lê Lợi, bên vỉa hè trước rạp xi-nê Mini Rex, thì gặp cô đào Thanh Nga. Vào cuối năm 1967, trên đường từ Mỹ về Việt Nam sau khi tham dự một khóa hội thảo, tôi phải đổi máy bay từ Pan-Am qua Air Vietnam tại Hồng Kông. Có mấy bà đi buôn thấy tôi không có hành lý nhiều đã mon men làm quen xin nhận giùm hàng. Tôi từ chối. Một cô gái ngồi cạnh nhìn tôi cười hỏi: “Anh có biết em không?”. Nhìn cô gái mặt hoa da phấn rất xinh xắn, tôi tưởng cô cũng nhờ gửi đồ. Tôi lắc đầu: “Rất tiếc tôi không biết”. Cô gái có vẻ thất vọng, nói vội: “Em là Thanh Nga đây!”. Hồi đó tôi có biết chi tới cải lương nên thật tình không biết.  Sau một hồi trò chuyện, cô cho tôi số nhà và rủ tôi tới chơi. Về Sài Gòn, bộn bề công việc, tôi quên bẵng chuyện này. Giờ, khoảng hai năm sau, tình cờ gặp lại cô đi với một sĩ quan, cô vẫn còn nhớ, gọi và trách tôi sao không tới chơi. Nghĩ mình thiệt cù lần lửa!
Hồi đó chúng tôi ít có thứ giải trí. Internet, YouTube, Facebook là những thứ chưa được khai sanh. Smartphone, tablette, computer vẫn còn ở tận đâu đâu. Chỉ có đọc sách và đi bát phố. Cung Tiến khi đó còn là học sinh Chu Văn An, trên tôi một lớp, có làm một bản nhạc vui mang tên “Bát Học”. Tôi còn nhớ lõm bõm ít câu: “Một là đi hai là bát, hai chuyện đó ta không nề chi. Bát! Bát! Bát! Nếu ta không thuộc bài. Nên chuồn và nên chuồn…”. Bài hát kết bằng câu: “Chủ Nhật sau đi công si. Đi công si. Công Si”. “Công si” phiên âm từ tiếng Pháp “consigne” là bị phạt tới trường để thầy phụ trách bắt làm chi thì làm nấy. Không biết có bạn nào đồng trang lứa còn nhớ bài này không. Tôi vào hỏi ChatGPT, hắn mù tịt! Hỏi dồn thì hắn…tán: “Thông tin về bản nhạc vui này khá hiếm vì nó gần như không được xuất bản chính thức, chủ yếu sống trong hồi ức của giới cựu học sinh Trường Trung học Chu Văn An và bạn bè của Cung Tiến. Điều thú vị là bài này cho thấy Cung Tiến hồi trẻ không hề “chỉ” là một nhạc sĩ u hoài, mà còn rất tinh quái và có khiếu châm biếm học trò. Sau này ông gần như không đi theo dòng nhạc vui nữa nên các bài kiểu này trở thành “hàng hiếm”. Mình chưa thấy bản chép lời đầy đủ hay bản thu âm chính thức nào còn lưu hành đáng tin cậy. Phần lớn chỉ được truyền miệng giữa những người cùng thế hệ”. Không biết chị Hữu, bà Cung Tiến, có lục tìm được trong di cảo của anh không? Sau khi bài này được phổ biến, một cựu học sinh Chu Văn An, em tôi, Tạ Trung Dũng cho biết đây là một bản nhạc ngoại quốc, bài Buttons and Bows do ca sĩ Dinah Shore trình bày. Lời bản nhạc chẳng ăn nhậu chi tới chuyện bát học: “Let go where I’ll keep on wearin’ / Those frills and flowers and buttons and bows / Rings and things and buttons and bows / Don’t bury me in this prairie / Take me where the cement grows…”. Cung Tiến chỉ chế lời cho bản nhạc này!

Trên đường Tự Do có ba nhà hàng cà phê, nơi các văn nhân ký giả thường lui tới. Đó là La Pagode, Givral và Brodard. Tôi hay ngồi tại La Pagode mà dân ta gọi là quán Cái Chùa. Nhà văn Văn Quang, dân miền Bắc vào Sài Gòn từ năm 1953, cho ba nhà hàng này là cái “trục văn hóa không tên, phảng phất mà rất sâu đậm trong cái hồn của Sài Gòn”. Trong bài “Văn Hóa Không Tên Tạo Nên Linh Hồn Sài Gòn Xưa”, ông viết : « Hồi đó Pagode còn bày hàng ghế salon bọc da ra ngoài hành lang, theo lời ông Nguyên Sa thì nó giống hệt nhiều nhà hàng ở Paris. Ngồi ở đây thoáng đãng. Khách đến thường chỉ dùng một ly cà phê, ngồi từ chiều đến tối mịt. Phía trong có một bàn đánh “tin” dành cho khách giải trí chứ không có mục đích cờ bạc kiếm tiền. Ông Hoàng Hải, anh ruột của cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, có thể kể là một “nhà vô địch về môn giải trí này. Chúng tôi chỉ cần mua một chục cái jeton, như đồng xu, bỏ vào khe là chơi triền miên. Cứ sắp hết lại kêu ông Hoàng Hải “cứu giá”, bonus lại đổ xuống hàng đống jeton tha hồ chơi. Khách hàng của La Pagode hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ. Cứ vào buổi chiều, sau giờ tan sở là tụ tập lại đây. Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp các anh Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Đình Toàn… Quá nhiều, tôi không thể nhớ hết”.


Đường Tự Do 1965.


Đường Tự Do nhìn từ nhà hàng Givral.

Quán Cái Chùa là nơi tôi thường ngồi đồng nhất. Hẹn bạn bè là tới đây. Ngày đó tôi chỉ quen hai ông Nguyễn Xuân Hoàng và Nguyễn Đình Toàn. Ở đây có món Café Liegeois rất ngon. Các bà các cô rất thích. Tôi không phải là dân ghiền cà phê nên không đen cũng chẳng đen đá nên cũng khoái món ngọt ngọt này. Ngoài văn nghệ sĩ, các thanh niên thời thượng, ăn diện, cũng thường tới ngồi lấy oai. Một lần, tôi cùng Khánh Giang và Nguyên Vũ, tới ngồi tại đây khi NguyênVũ vừa về phép sau một cuộc hành quân. Nguyên Vũ có vẻ không vui vì trận đánh vừa qua, lính của anh bị thương tổn khá nhiều. Nhìn thấy một công tử ăn mặc diêm dúa, áo quần thẳng thớm, đeo kính mát Rayban, miệng vắt vẻo cái ống điếu, trên bàn bày ra một gói thuốc ngoại quốc, ngồi sát cửa kính, ngắm các em đi qua trên đường Tự Do, Nguyên Vũ có vẻ sôi tiết. Hắn rút cây súng lục đặt lên bàn. Chuẩn Úy Khánh Giang thấy coi bộ không xong, nhè nhẹ bỏ cây súng vào túi. Bỗng Nguyên Vũ tiến tới chỗ anh công tử, mắng đại khái chúng tao hy sinh cho mày ngồi hưởng thụ như thế này sao? Anh giơ tay giật đôi kính mát, bóp nát vụn trong tay. Tay anh bê bết máu. Anh công tử mặt xanh như tàu lá, lẩn nhanh ra khỏi tiệm


Nhà hàng La Pagode.

Tôi ít khi lai vãng tới Brodard vì nơi đây hoàn toàn thiếu vắng không khí văn nghệ. Lại phải nhờ tới thổ công Văn Quang miêu tả chốn này. “Còn nhà hàng Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, nhìn sang bên kia là vũ trường Tự Do của ông Cường lùn và chị “tài pán” Nhựt, bà chị này hành nghề cai quản các em “ca nhe” từ vũ trường Ritz Hà Nội vào Nam. Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”. Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những anh hùng “hảo hớn” như Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ. Các “đại gia, tiểu gia” thời đó không nhiều, chỉ vỏn vẹn một số ông dược sĩ, tu bíp, doanh nhân có “xế bốn bánh” đủ để chở các em đi ăn đêm. Thỉnh thoảng một vài em vũ nữ, thường là loại có hạng như Lệ Hằng, Thủy Điên, Mỹ Khùng… ở mấy cái vũ trường gần đó như Tự Do, Mỹ Phụng, Olympia cũng la cà vào đây tán dóc”


Nhà hàng Brodard

Như thế, thành phần khách đến Brodard có tính chất một đại chúng rất đời thường, nặng về bề ngoài vật chất. Dân đến đây không khỏi ít nhiều có thái độ khoe mẽ về sự giàu có, khả năng mua vui, hưởng thụ cuộc đời của mình. So với Givral và La Pagode  – nhất là so với La Pagode, nơi ‘đóng đô’ thường xuyên của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nghệ sĩ trình diễn… – Brodard có vẻ ít chất văn nghệ, chữ nghĩa hơn.

Nhà hàng Givral lại là chuyện khác. Đây có lẽ là chốn cà phê lâu đời nhất Sài Gòn. Nó có mặt từ thập niên 1950 ngay trước cửa trụ sở Hạ Viện. Chủ nhân là một người Pháp sống lâu năm ở Việt Nam, ông Alain Poitier. Sau 8 tháng chuẩn bị, Givral khai trương vào cuối năm 1950, biến tiệm thuốc tây đầu tiên của Sài Gòn thành một tiệm cà phê bánh ngọt hương vị Pháp – Việt. Givral đông khách nhất vào mỗi buổi sáng khi các phóng viên ngoại quốc và các dân biểu chuyện trò trước khi qua quốc hội họp. Từ đây tin tức được truyền tai nhau, có cái đúng, có cái trật lất. Hồi đó nơi này có xước hiệu là “Radio Catinat”! Giữa không khí chính trị cũng có văn nghệ. Văn Quang kể về “trụ sở” của nhà thơ Đinh Hùng tại đây. “Có một nhà thơ hàng đầu Việt Nam thời đó là thi sĩ Đinh Hùng, bình thường ông hay ngồi ở La Pagode, nhưng khi “hữu sự” ông lại ngồi ở Givral. Dáng người “thanh thoát” nhỏ nhắn rất thư sinh. Lúc nào ông cũng chải chuốt, complet, cravate, đầu chải mượt gọn gàng, tay luôn xách chiếc cặp da, ông còn giữ nguyên vẻ đỏm dáng, lịch lãm của “công tử Hà Nội” những năm 50. Ông thường hẹn gặp những người ái mộ ở đây. Tôi để ý thấy hầu hết là những nữ độc giả rất trẻ, đẹp. Khi ông ngồi cùng ba bốn cô, khi ông lại rù rì với một người đẹp duy nhất. Đúng là ông có số đào hoa và dù đã ngoại ngũ tuần nhưng trái tim vẫn còn rất trẻ. Những lúc nhìn ông “say” như thế, tôi có cảm tưởng như ông cũng giống như những cậu trai 20 ngồi bên cô gái 18. Ông sống thật với rung cảm của mình. Có lẽ vì vậy thơ ông bao giờ cũng mang cái óng mượt, thần thoại rất đặc trưng. Có thể, Givral chính là nơi bắt ngưồn cho những cánh thơ thăng hoa của cảm xúc này”.  Ông Văn Quang khen ông Đinh Hùng là khen mẽ. Ông cũng thuộc loại thượng thừa trong tình trường. Nhà văn Hoàng Hải Thủy, đã đặt cho ông biệt danh: “Thuyền trưởng 8 tầu”!


Nhà hàng Givral ngày xưa.


Nhà hàng Givral ngày nay (2026)

Givral là nơi tụ tập của đám phóng viên và ký giả ngoại quốc của UPI, AP, Paris Match…Tiểu thuyết gia lừng danh Graham Green, tác giả cuốn “The Quiet American” đã nhiều lần lui tới Givral và đã đưa nơi chốn nổi tiếng này vào truyện của ông. Năm 2002, đạo diễn Philippe Noyce đã chuyển truyện thành phim. Ông thuê hẳn tiệm Givral để tái hiện quang cảnh tiệm vào thời gian thập niên 1950-1960.

Mấy ai muốn đến nơi không còn lưu giữ ký ức?- Ảnh 4.
Một cảnh trong phim "Người Mỹ trầm lặng" quay tại nhà hàng Givral

http://www.songthao.com/gap-go-picture/images/hinh-22_jpg.jpg
Từ trái: Nhà báo Nguyễn Quốc Thái - hoạ sĩ Trịnh Cung - nhà văn Văn Quang - Song Thao - nhà báo Hà Túc Đạo - nhà báo Nguyễn Khắc Nhân (Nhà hàng Givral, Sàigòn, 2001)

Năm 2001, tôi có việc gia đình ở Sài Gòn nên quay lại chốn cũ và ngồi tại Givral với bạn bè còn ở Sài Gòn. Bữa đó chúng tôi gồm Văn Quang, Trịnh Cung, Hà Túc Đạo, Nguyễn Quốc Thái và một người từ Mỹ về, nhà báo Nguyễn Khắc Nhân, vẫn có được Givral xưa. Không hiểu vào năm nào, người ta đã phá toàn khu Eden trong đó có Givral. Ngày 10/10/ 2012, Givral đã mở cửa lại nhưng là một Givral mới. Một mảnh ký ức Sài Gòn của chúng ta đã vụn vỡ.

(Còn tiếp)
05/2026

 Xem tiếp phần 2

Sunday, July 12, 2026

Nghỉ Hè Ở Mallorca - Phạm Tín An Ninh

Mallorca, một hòn đảo du lịch nổi tiếng của Tây Ban Nha, nằm trong quần đảo Balearic. Trước khi đến đây, vì nghĩ là đảo, nên tôi tưởng chỉ có rừng núi và biển cùng một vài làng mạc hay khu phố nhỏ. Nhưng tôi rất ngạc nhiên khi phi cơ đáp xuống phi trường Palma rộng lớn, kiến trúc tân kỳ, sang trọng còn hơn nhiều phi trường quốc tế khác mà tôi đã từng đi qua. Palma là thủ phủ tráng lệ của Mallorca, nằm trên một dãy đồi cao nhìn xuống biển xanh. Đặc biệt khu nhà thờ Cathedral nằm bên cạnh giáo đường Mussulman, gồm những kiến trúc độc đáo, nổi tiếng theo kiểu Mediterranean Gothic từ thế kỷ thứ 13.

Chiếc xe bus của công ty du lịch đưa chúng tôi đi qua vài thành phố cảng, sang trọng và sầm uất, nằm dọc theo bờ biển, để đến Alcudia, khu nghỉ mát nằm phía đông bắc Palma chừng ba giờ xe. Chúng tôi chọn nơi này, vì bờ biển đẹp, một cái vịnh nhỏ, nằm khuất sau dãy núi Victoria, nên không có sóng và khá an toàn cho trẻ em. Những em bé năm, sáu tuổi có thể lội ra cách bờ 50-60 mét.

Thực ra kỳ nghỉ hè này chỉ là món nợ mà vợ chồng tôi phải trả cho con bé cháu nội. Trước đây hai năm tôi hứa với cô bé là sẽ thưởng một kỳ nghỉ hè hai tuần lễ ở Mallorca nếu nó đọc và viết được tiếng Việt. Chúng tôi ở trong một khách sạn, đi bộ ra biển chừng vài phút. (Đa số khách sạn ở vùng này giống như những khu apartment, mỗi phòng trọ, ngoài các phòng ngủ, còn có phòng khách và bếp với đầy đủ dụng cụ nấu ăn). Ở Bắc Âu thời tiết lạnh đến bảy, tám tháng, không có nhiều dịp được ra biển tắm, nên con bé cháu nội rất mê biển. Sáng nào, mới vừa thức dậy, con bé cũng giục ông bà nội ra biển, mãi đến chiều, khi trời sắp tắt nắng mới chịu trở về. Đã vậy khi về đến khách sạn, cô bé còn xin được tiếp tục bơi lội trong hồ tắm của khách sạn đến tối mịt mới chịu vào phòng. Trong khi bà xã làm thức ăn, tôi có nhiệm vụ ngồi trên bờ hồ trông chừng con bé.

Ở đây, hầu hết khách du lịch đến từ Âu Châu, đa số là người Bắc Âu và Đức. Suốt tuần lễ đầu tiên, tôi không gặp người Á châu nào, ngoại trừ gia đình người Tàu làm chủ một nhà hàng buffet, sinh sống ở đây đã lâu năm. Một hôm, khi nằm trên chiếc ghế dựa bên hồ tắm nhìn trời, bất ngờ nghe cô bé cháu nội nói chuyện bằng tiếng Việt với một người nào đó. Nhìn xuống hồ tôi nhận ra một cô gái tóc đen đang tắm và đùa giỡn với con bé. Thấy tôi nhìn, cô gái lạ đưa tay vẫy, và nở một nụ cười chào tôi. Giữa một nơi xa lạ, người đồng hương dễ quen nhau.

Trưa hôm sau, trong lúc vợ chồng tôi nằm trốn nắng dưới cây dù lớn ngoài bãi tắm, con bé cháu nội dắt tay cô gái đến chào chúng tôi. Cô gái tự giới thiệu tên mình là Lam Khê, khoảng chừng 19, 20 tuổi, khuôn mặt khá xinh và đôi mắt thật to, tự nhiên dễ mến. Nhưng điều làm tôi chú ý chính là cái tên Lam Khê, trùng hợp với một địa danh vẫn còn đậm trong ký ức, cho dù cuộc đời thăng trầm đây đó của tôi còn có biết bao nhiêu cái tên để nhớ.

Buổi chiều, khi vợ chồng tôi và cô bé cháu nội đang ăn tối trong nhà hàng buffet của một người chủ gốc Tàu, thì bất ngờ thấy Lam Khê đi vào cùng với một người đàn bà Việt Nam và một người đàn ông ngoại quốc. Có lẽ Lam Khê đã kể về chúng tôi, nên cả hai người đến chào và bắt tay chúng tôi. Khi đứng lên bắt tay bà mẹ, tôi bất ngờ đến giật mình khi nhận ra người đàn bà này chính là người mà tôi vừa nghĩ tới sáng nay khi gặp Lam Khê. Trong khi tôi đang ngạc nhiên về những cuộc hạnh ngộ bất ngờ trong đời mình, thì bà nở nụ cười giới thiệu người đàn ông ngoại quốc đi bên cạnh:

-Đây là ông xã em. Anh người Đức. Chúng em sống ở thành phố Hamburg.

Tôi đưa tay bắt tay và gật đầu chào người đàn ông, nhưng lại hỏi bà:

-Xin lỗi, tên bà có phải là Hà Giang?

-Sao ông bà biết tên tôi? Người đàn bà trố mắt nhìn chúng tôi ngạc nhiên.
-Không ngờ tôi lại gặp bà ở đây - Tôi vừa nói vừa kéo ghế mời cả ba người- Hóa ra chúng ta đã từng gặp nhau. Chúng tôi xin được mời ông bà và cháu Lam Khê.

Bà ngồi xuống bên cạnh vợ tôi, nét ngạc nhiên vẫn còn nguyên trên mặt. Để đánh tan không khí căng thẳng, tôi giải thích:

- Tôi biết bà khi tôi đang ở tù ngoài miền Bắc. Sáng nay khi gặp và biết tên cháu Lam Khê, tôi đã nghĩ ngay đến bà. Bởi cái tên Lam Khê, tôi và đám bạn tù không thể nào quên. Không ngờ bây giờ lại gặp bà ở đây. Xin cám ơn tình cảm và lòng tốt của bà đã dành cho chúng tôi trong những ngày sa cơ khốn khó.

Bà nhìn tôi dò xét. Suốt bữa ăn, chúng tôi nhắc lại những ngày vui buồn ở vùng núi xa xăm ấy. Trong khung cảnh vui vẻ, nhưng nhìn khuôn mặt và nụ cười không trọn, tôi có cảm giác bà ta đang ưu tư một điều gì đó.

Lam Khê, cái tên khá đẹp đó lại là một khu núi rừng Thanh Hóa, tiêu điều hoang vắng, nằm sát biên giới Lào-Việt, mà bọn tù “cải tạo” chúng tôi bị đưa đến đây để phát rừng trồng cây, xây dựng một lâm trường, trong một mùa hè nắng và gió Lào muốn cháy cả thịt da.

Ngày đầu mới đến, giữa một khu núi rừng xa xôi hẻo lánh, chúng tôi chỉ thấy có hai căn nhà lá cọ vừa mới dựng lên, trong đó chỉ có vài người ở. Họ được giới thiệu là “những bảo vệ và cán bộ lâm trường”. Điều làm chúng tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú là sự có mặt của một cô con gái trẻ, trông dáng dấp e ấp thư sinh, mà lại là “thủ trưởng” toàn bộ lâm trường này. Tôi nhớ một câu ví von của người nào đó: “Hoa lạc giữa rừng gươm”!

Cả đội tù chúng tôi trên sáu mươi người được lệnh ngồi trên một bãi cỏ bên bìa rừng, để “nghe nữ đồng chí giám đốc lâm trường lên lớp”. Mặc một bộ đồ công nhân màu xanh, rộng thùng thình, khuôn mặt không một chút phấn son, nhưng trông khá xinh với đôi mắt thật to và buồn. Cô chào chúng tôi bằng một nụ cười, nói năng từ tốn, tự giới thiệu tên là Hà Giang, trước khi nói về địa thế, đặc tính khu rừng, cách thức phát hoang và phương pháp an toàn. Cô gọi chúng tôi là các chú và xưng mình là em. Sự kiện chưa từng thấy trong những năm tù. Cuối cùng cô nhờ anh đội trưởng cắt cử cho cô năm người để cô hướng dẫn việc đo đạc, cấm cọc, căng giây. Tôi được may mắn nằm trong năm thằng được chọn.

Dường như từ ngày có chúng tôi, đôi mắt của cô trông bớt buồn hơn. Nhiều lúc cô đùa giỡn rất thân tình. Mỗi ngày năm đứa chúng tôi theo cô vào rừng để đo đạc. Những lúc ấy cô thường ngồi tâm tình. Cô kể về đời mình và thường hỏi mỗi người chúng tôi về hoàn cảnh cha mẹ, vợ con ở quê nhà. Nghe chúng tôi kể sự gian truân của gia đình cùng nỗi nhớ thương vô vọng, nhiều lần cô đã lau nước mắt. Thấy một anh đeo trên cổ tấm ảnh của vợ lồng trong mảnh gỗ mun nhỏ, cô xin được xem rồi bảo nhỏ “các chú thật chung tình”.

Hà Giang là một sinh viên giỏi, được gửi sang Đông Đức học về Lâm Nghiệp. Sau khi tốt nghiệp trở về đúng vào lúc đảng Cộng Sản phát động phong trào “trí thức đi thực tế”, cô được đưa lên Lào Cai, hướng dẫn những người dân tộc trồng và bảo vệ rừng. Mới đến Lào Cai vài tháng, chưa quen với khí hậu khắc nghiệt và tập quán địa phương, thì giặc “bành trướng” Trung Quốc tràn qua biên giới. Rất may mắn, lúc ấy cô đang về học một lớp chính trị ở Hà Nội, nên thoát nạn và được Bộ điều vào Thanh Hóa để thành lập lâm trường mới. Đó chính là lâm trường mà chúng tôi đang có mặt. Thực ra đây chỉ là một vùng núi rừng hoang vắng, với ban điều hành gồm năm người, do cô làm giám đốc, cơ sở chỉ là hai căn nhà lá, công nhân là 60 thằng tù khổ sai bọn tôi, và dụng cụ chỉ có toàn dao phát rừng và vài cái cuốc chim!

Một hôm, thấy thấp thoáng một người đàn ông lạ, chúng tôi hỏi cô. Ngập ngừng một lúc thì cô mới buồn bã tâm sự. Người đàn ông ấy là một công nhân máy kéo tiên tiến, đang phục vụ ở một lâm trường khác, cách nơi này hơn hai mươi cây số, có nhiều tuổi đảng, được đảng bộ sắp xếp để lâp gia đình với cô, làm gương cho kế hoạch “trí thức cùng chung sống với công nhân” của đảng mới đề ra. Mục đích làm cho đám công nhân ít học, phấn khởi trước sự ưu ái của đảng, đem hết sức lực ra phục vụ và trung thành với đảng. Đây cũng là “phần thưởng” để cô được bổ nhậm về lâm trường mới này với chức danh giám đốc!

Chúng tôi ngạc nhiên, vì gã công nhân tiên tiến này trông lớn hơn cô nhiều tuổi, rổ mặt, đen đủi, cục mịch. Không có điều nào hợp với cô con gái có học và dễ thương này. Cô còn bảo là trong trái tim cô, không hề có một ngăn nhỏ nào dành cho anh ta, nhưng không dám làm trái ý đảng, sẽ bị kỷ luật nặng, vì vậy cô phải gật đầu, nhưng tìm cách trì hoãn đám cưới được ngày nào hay ngày ấy. Cô nói là cô đang trong thời kỳ “nín thở qua sông”!



Mặc dù có cảm tình và tội nghiệp cô, nhưng chúng tôi luôn “đề cao cảnh giác” không dám nói điều gì. Vì kinh nghiệm cho chúng tôi biết, Cộng Sản luôn gài nhiều cái bẫy chung quanh, và chuyện “mỹ nhân kế” không phải bây giờ mới có. Một hôm, trong lúc ngồi nghỉ trưa, cô lấy ra từ chiếc bao nhỏ, mời chúng tôi mỗi người một củ khoai lang luôc, rồi buột miệng hỏi:
-Nghe nói các anh ở trong trại bị bọn công an hành hạ dữ lắm phải không?

- Bọn tôi là những người thua trận, thì chuyện bị tù đày, hành hạ cũng là lẽ thường tình - Một anh bạn tù trong bọn tôi trả lời.
Cô trầm ngâm giây lát rồi lên tiếng:
- Theo em thì trong cuộc chiến ấy, tất cả chúng ta, miền Bắc và miền Nam, chẳng có ai chiến thắng. Chỉ có những kẻ ngu muội, luôn cúi đầu làm tay sai ngoại bang, mà cứ tưởng là mình đại thắng, để cầm tù và hành hạ lẫn nhau thôi. Chỉ trong các nước Cộng Sản mới có chuyện lạ đời: một ngu dốt lại được giao trách nhiệm “giáo dục, cải tạo” những người trí thức, mà đòi hỏi người ta phải tiến bộ tốt! Khôi hài thật!

Bọn tôi chỉ im lặng. Những lần nói chuyện sau đó cô thường bảo là cô rất ghê tởm cái đảng Cộng sản, nhưng muốn chống lại hay thoát ra, phải trả bằng mạng sống, có khi làm khốn khổ cho cả gia đình. Điều làm chúng tôi vui là được lao động thoải mái, không cần phải đạt một chỉ tiêu nào, và thường được cô cho bồi dưỡng bằng khoai, có khi mì sợi. Anh em nào có áo quần dân sự hay khăn tắm mang theo, Cô nhận mang đi đổi lấy gạo, đường hay vài loại thực phẩm khác.

Lâm trường mới khởi công vừa được hơn ba tuần thì trại tù có lệnh biên chế. Tôi bị chuyển sang một trại mới, tiếc nuối những ngày lao động tương đối thoải mái, hiếm hoi trong gần bảy năm tù.

2-
Chiều hôm sau, khi dắt con bé cháu nội ra hồ tắm trong khách sạn, tôi bất ngờ gặp Hà Giang và cô con gái Lam Khê. Hai mẹ con đang nằm trên ghế đọc sách. Thấy tôi, Hà Giang ngồi dậy,  mời tôi ngồi vào ghế bên cạnh và vui vẻ bảo Lam Khê xuống hồ bơi và chơi đùa với con bé cháu nội của tôi, dặn dò trông chừng con bé, và có nhã ý muốn đến phòng trọ thăm bà xã của tôi.

Chúng tôi mời cơm, nhưng bà từ chối, chỉ xin uống trà. Khi tách trà vừa cạn, bà đề nghị chúng tôi cứ gọi bà bằng cô và đột ngột hỏi tôi:
- Anh còn nhớ anh Đôn không ?

Thấy tôi chau mày, bà nói thêm như để xác định:

-  Trần Chánh Đôn!
Tôi hỏi lại:
- Đôn pilot, cùng toán đo đạc với tôi lúc làm việc với cô ở lâm trường?
Hà Giang gật đầu, không nói. Một lúc, tôi thấy bà đưa khăn tay lau nước mắt. Và sau đó, vợ chồng tôi ngồi nghe tâm sự của bà:
- Anh Đôn đã chết rồi! Tất cả là do lỗi của em. Chính em đã cung cấp cho anh Đôn thực phẩm, thuốc men, tấm bản đồ và một chiếc la bàn, em lấy của lâm trường khi ấy, và chỉ vẽ cho anh cách thức trốn khỏi lâm trường cùng với ba người bạn tù khác. Với tấm bản đồ, cái la bàn và  sự hướng dẫn tường tận của em, em tin chắc là các anh ấy đã dễ dàng trốn được qua khỏi biên giới. 

Không ngờ sau hơn ba tuần, khi em đang khấp khởi mừng thầm thì được tin tất cả đều bị bắt tại Lào. Em như muốn quỵ xuống, mất ăn mất ngủ, nhưng cũng cố giữ bình tĩnh tìm cách hỏi một số cán bộ công an trại giam. Họ cho biết là tất cả bốn anh đều bị công an bắn chết trên đường dẫn độ từ Lào về trại, bởi các anh đã chống cự để tìm cách thoát thân. Mặc dù tin tưởng vào thái độ kiên cường và tư cách của các anh, dù có tra tấn thế nào các anh cũng sẽ không khai ra sự tiếp tay trợ giúp của em, nhưng em vẫn lo sợ bị liên lụy, nếu họ phát hiện tấm bản đồ và cái la bàn của lâm trường thì hậu quả khôn lường, nên em đã khẩn trương chạy về Bộ, năn nỉ và hối lộ tất cả số tiền dành dụm để ông Thứ Trưởng cho em được trở lại Đông Đức hai tuần, đệ trình cho trường đại học cũ một số nghiên cứu mà em vừa viết xong, sau hơn một năm tốt nghiệp và ra thực tế ngoài lâm trường. 

May mắn em được ông ta gật đầu, và liên lạc can thiệp bên tòa đại sứ Đức cấp visa sớm. Chỉ hơn mười ngày là em rời khỏi nước. Tất nhiên đó chỉ là cái cớ.  Sau khi sang Đức, em trốn lại ở nhà vợ chồng người bạn Đức mà em quen thân lúc còn học ở đây. Ông chồng em mà anh chị gặp tối hôm qua trong quán ăn, là anh ruột của cô bạn thân này. Anh ấy đã hết lòng lo lắng và chở che em.

Rời khỏi Việt Nam, ngoài quê hương và gia đình, em còn mang theo hình ảnh của anh Đôn. Xin anh chị đừng ngạc nhiên, em yêu anh ấy! Ngoài sự hiểu biết, đẹp trai với nụ cười độ lượng, em còn nhìn thấy bên trong của anh Đôn là sự thủy chung và lòng tự trong, có cả một chút nghệ sĩ lãng mạn nữa. Thời gian làm việc bên nhau, trong khu núi rừng Lam Khê ấy, em đã học được ở anh rất nhiều điều hay, nghe anh hát những bản tình ca, đọc những bài thơ lãng mạn, tuyệt vời. Trái tim em lần đầu tiên biết rung động. 

Tội nghiệp, em yêu anh Đôn trong một hoàn cảnh quá nghiệt ngã. Điều duy nhất mà em có thể làm được cho người yêu của mình là giúp anh trốn trại, vượt ra khỏi khung cảnh đày ải man rợ, để anh ấy luôn được xứng đáng với những điều anh đang có. Vì chính những điều ấy đã làm cho trái tim em rung động, để em biết thế nào là một tình yêu, mà nếu không gặp anh ấy, có lẽ suốt cả đời em không có được. Quan trọng hơn, đó lại là thứ vũ khí tốt nhất, hiệu quả nhất giúp em đủ can đảm và nghị lực để chống lại số phận, mà trước đó em nghĩ  là sẽ tới một ngày em sẽ phải đầu hàng, buông xuôi, bất lực.

Hà Giang ngưng lại, lau tiếp những giọt nước mắt chảy dài trên gò má. Tôi rót thêm trà mời cô.

Bà xã tôi hỏi:

- Cô có giữ tấm ảnh nào của anh Đôn?

- Tiếc là khi ấy anh Đôn không có tấm ảnh nào hết. Anh có cho em địa chỉ của bố mẹ anh ở thành phố Nha Trang, nhưng em gởi mấy cái thư về địa chỉ ấy đều bị trả lại, với lý do:  người nhận không còn ở tại địa chỉ này. Nghe nói bố mẹ anh đều là thầy giáo, không biết có bị đi vùng kinh tế mới hay không?
Tôi đưa tay ngăn lời cô:
- Cô còn nhớ địa chỉ ấy không? Chúng tôi cũng đều là người gốc Nha Trang. Tôi có thể hỏi thăm tin tức cho cô. Nhân tiện chúng tôi cũng muốn biếu cha mẹ anh ít tiền, vì Đôn cũng là bạn tù của tôi.
Hà Giang chau mày:
-  Lâu quá, nên em quên, nhưng có thể em còn giữ ở nhà. Em xin địa chỉ e-mail để gởi đến anh chị, nếu em tìm lại được. Em thiết tha muốn gặp bố mẹ anh Đôn, nếu các người còn sống.

Thực ra chuyện Hà Giang yêu Đôn, cũng chẳng làm tôi ngạc nhiên nhiều lắm. Đúng như Hà Giang nói: Đôn là một phi công trẻ. Bao nhiêu năm trong cảnh khốn cùng, đã không làm mất đi nét đẹp trai, tính nghệ sĩ và tư cách của Đôn. Bạn tù ai cũng quí mến. Chuyện Đôn cùng ba người bạn tù khác trốn trại, khi tôi đã bị chuyển đi trại khác hơn tám tháng, sau này ra hải ngoại, tôi có nghe đám bạn bè kể lại, nhưng mỗi người mỗi cách.

Chỉ hơn một tuần về lại nhà, sau kỳ nghỉ hè khá thú vị, nhất là bất ngờ gặp lại Hà Giang, hồi tưởng lại một thời tù đày, tôi nhận được e-mail của Hà Giang gởi thăm, có ghi địa chỉ của ông bà Trần Chánh Nghị, cha mẹ Đôn, ở Nha Trang.

Tôi viết thư nhờ người bạn thân còn ở lại Nha Trang, tìm đến địa chỉ nhà Đôn mà Hà Giang vừa mới cho. Tôi cũng cho anh bạn biết là gia đình Đôn đã dọn đi nơi khác, nhưng từ đó hỏi thăm biết đâu có thể tìm ra manh mối.

Sau gần hai tháng, tôi nhận được thư hồi âm của người bạn cũ. Một đoạn trong thư làm tôi bất ngờ, nhưng sáng lên hy vọng:

“Đúng như mày viết, gia đình người này đã dọn đi khá lâu rồi. Nhưng có người láng giềng cho biết là ông bà chủ nhà đã qua đời hơn hai mươi năm nay. Ông bà chỉ có người con trai duy  nhất bị tàn tật, hình như là đang đi tu ở một ngôi chùa nào đó. Tao dò tìm khắp nơi theo lời kể khá mơ hồ của những người hàng xóm, đến nay vẫn chưa gặp được...“

Tôi đọc đi đọc lại dòng chữ “Ông bà chỉ có người con trai duy nhất“, rồi chạy ra ngân hàng gởi một ít tiền cho người bạn, kèm theo lời nhắn: Mày cố gắng mọi cách tìm gặp người con trai này, và hỏi có phải tên là Trần Chánh Đôn. Có gì ra bưu điện gọi điện thoại cho tao biết.

Tôi nôn nao chờ đợi, bỗng một hôm, lúc nửa đêm, điện thoại reo. Bốc ống nghe lên, tôi vui mừng và hồi họp khi nghe tiếng của người bạn từ Việt Nam:
“Tao đã tìm được anh ta. Đúng là Trần Chánh Đôn. Bây giờ là đại đức Thích Thiện Hòa. Anh đang tu ở một ngôi chùa nhỏ, nằm dưới triền núi, phía trên đèo Ngoạn Mục, đèo Bellevue đó, thuộc quận Đơn Dương, cách Đà Lạt gần bốn mươi cây số. Chùa do người bác ruột xây dựng và làm trụ trì. Tội nghiệp, ông Thiện Hòa bị mù một con mắt và què cả hai chân, nhưng khuôn mặt trông đẹp và phúc hậu lắm. Tao nghĩ là ông không bao giờ rời khỏi chùa, vì từ dưới chân núi đi lên, tao đếm hơn năm mươi bậc tam cấp.“

Tôi viết e-mail cho Hà Giang, báo cho cô cái tin bất ngờ này. Đắn đo mãi, cuối cùng mới quyết định nói thật mọi điều. Nhớ lại nhiều lần cô lau nước mắt khi kể về Đôn với vợ chồng tôi ở Mallorca, tôi nghĩ là cô sẽ đau lòng lắm khi nhận được tin này.

Sáng hôm sau tôi nhận e-mail hồi âm của Hà Giang:
“Anh Chị  ơi.
Em đã khóc hết nước mắt khi nhận được tin anh Đôn. Suốt cả đêm hôm qua em không thể nào chợp mắt. Em phải xin nghỉ làm hôm nay, và bây giờ lòng dạ cứ thẫn thờ. Không thể ngờ là anh Đôn vẫn còn sống. Em vừa mừng nhưng cũng vừa đau lòng lắm, khi biết anh đã bị mù một mắt và tàn phế cả đôi chân. 

Suy nghĩ mãi, em mới dám nói ra điều này với anh chị, vì anh cũng là bạn của anh Đôn và với em như là một người anh, người chú.

- Cháu Lam Khê, đứa con gái mà anh chị đã gặp ở Mallorca, chính là giọt máu của anh Đôn. Trước ngày chia tay, để anh ra đi, chúng em có đôi ngày hạnh phúc ngắn ngủi trong rừng, em tự nguyện dâng hiến cho anh, thay cho lời hẹn ước, là dù góc biển chân trời nào, dù có phải trải qua bao nhiêu giông bão, chúng em cũng sẽ tìm gặp để đoàn viên. 

Nhưng rồi ông trời đã hại em, vì em cứ đinh ninh là anh ấy đã chết. Để tang cho anh đến sáu năm, em mới lấy ông chồng này, đền đáp lòng yêu thương và cưu mang đùm bọc của ông khi em thân cô trôi dạt xứ người. Bây giờ biết được anh Đôn còn sống, nhưng đã trở thành một vị đại đức, em vừa hối hận vừa băn khoăn, không biết phải làm sao. Em tha thiết xin anh chị cho em một lời khuyên, để em biết mình sẽ phải làm gì. Bây giờ chắc anh ấy chẳng cần một sự giúp đỡ vật chất nào, nhưng còn Lam Khê, dù sao nó cũng l giọt máu của anh. Làm thế nào để cha con nhận ra nhau? Lam Khê cũng nghĩ là ba nó đã chết. Thỉnh thoảng cháu hỏi em về ba nó. Cháu thương và hãnh diện về ba cháu lắm.“

3-
Cuối cùng, vợ chồng tôi bàn tính mãi nhưng cũng không tìm ra một lời khuyên nào để giúp Hà Giang, ngoài việc hỏi cô nếu muốn gặp Đôn, vợ tôi có thể giúp cô, cùng về Việt Nam, vì vợ tôi sống ở Nha Trang khá lâu, lại có thằng bạn thân ở đó, biết rõ đường đi đến vùng núi Đơn Dương, Đà Lạt, nơi có ngôi chùa.

Không ngờ Hà Giang mừng rỡ đón nhận đề nghị này, và xin vợ tôi về Việt Nam ngay trong tuần để đón giùm mẹ con cô tại phi trường Tân Sơn Nhất. Đây là lần đầu tiên cô bước chân đến miền Nam Việt Nam. Số chuyến bay và giờ đến phi trường, cô sẽ cho biết sớm.

Và dưới đây là lời kể của vợ tôi, về cuộc trùng phùng:
...Họ gặp nhau và nhận ra nhau. Mới đầu, Hà Giang ôm chầm lấy Đôn mà khóc nức nở. Cô quên mất anh đang là một vị thầy tu. Xúc động nhất là khi Hà Giang cho anh biết Lam Khê chính là con của anh. Hai cha con họ ôm lấy nhau thật lâu và cả hai đầm đìa nước mắt. Thầy đem cả triết lý đời và đạo để an ủi, khuyến khích và hướng dẫn Lam Khê bước đi trong cuộc sống có quá nhiều muộn phiền và bất trắc. Thầy nói thật hay và cảm động.

Thầy kể lại chuyện trốn tù, lý do vì sao bị bắt, chuyện thầy bị đánh vỡ một con mắt và bị bắn nát hai bàn chân chỉ vì thầy nhất định không khai người nào đã giúp thầy cùng ba người bạn tù trốn trại một cách tài tình mà chúng nghi ngờ, mặc dù thầy đã kịp giấu tấm bản đồ và cái la bàn dưới một tảng đá trước khi bị bắt. Họ không đưa về trại cũ mà giao cho một trại tù khác. Bị biệt giam ở đây đến mấy năm mà thầy chẳng biết vì sao không chết. Hà Giang ngồi khóc nức nở.

Sau khi mọi người tìm lại được sự bình tĩnh, Hà Giang xin cúng dường cho chùa một số hiện kim, nhưng thầy Thiện Hòa từ chối, bảo là nhà chùa không cần một số tiền lớn như vậy. Hà Giang tha thiết xin được đưa thầy đi sang Đức làm đôi chân giả và thay con mắt mù lòa, thầy cũng chối từ, bảo thầy đã quen rồi với những mất mát ấy, hơn nữa bây giờ thầy đã tu hành, năm tháng chỉ quanh quẩn trong chùa, không cần thiết phải đi đó đi đây. Thầy có mở một lớp học dạy các em học sinh nghèo hiếu học trong vùng, nhưng phòng học là gian nhà trống vách ngay phía sau chùa.

Đêm cuối cùng ở Nha Trang, Hà Giang quyết định đổi vé máy bay, ở lại một thời gian nữa. Cô cho biết là mẹ con cô sẽ cố gắng thuyết phục Đôn, để mua cho anh cái xe lăn, xin được xây lại ngôi chùa mới, thay những bậc tam cấp bằng con đường lát đá, đặc biệt phía sau chùa, từ gian phòng Thầy dạy học nhìn ra, đã có sẵn khu rừng với ít hoa dã quỳ, cô sẽ cho sửa sang lại thành một khu vườn đẹp đẽ, trồng thêm hoa, làm suối nước, và xin đặt tên là Lam Khê Viên, vì chữ Lam nghe cũng hợp với khung cảnh chùa chiền...

Khi ngồi viết những dòng này, tôi không biết là những điều mong ước của Hà Giang có được thầy Thích Thiện Hòa chấp nhận hay không, và cuộc tình đẹp và bi tráng này có còn sống mãi trong lòng mỗi người cho đến thiên thu.
Phạm Tín An Ninh